Thôi thủ. Lịch chiếu: 09/01 trên đài truyền hình Giang Tô và Chiết Giang. Diễn viên chính: Giả Nãi Lượng, Vương Âu. Số tập: 40 tập. Từ khi bấm máy đến nay, bộ phim Thôi thủ luôn được khán giả quan tâm, trong đó tiêu điểm thu hút sự chú ý là sự kết đôi giữa Giả Nãi Trang Tử (khoảng 369-286 TCN) tên là Trang Chu, người nước Tống, sống vào thời Chiến Quốc. Về mặt triết học, kế thừa tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử cũng cho rằng "đạo" là nguồn gốc của sự vật, trời đất, thần thánh. Đồng thời từ chỗ cho vạn vật đều do đạo NGƯỜI MẸ BA LẦN CHUYỂN NHÀ. Thời xưa, có câu chuyện "Người mẹ ba lần chuyển nhà", chính là mẹ của Mạnh Tử vì muốn tạo một môi trường học tập tốt cho con. Lần đầu chuyển nhà, đứng bên cạnh khu nghĩa địa, cho nên Mạnh Tử học làm nhiều việc tang. Sau khi mẹ Riêng trong các ngày lễ thì trang phục của người dân Nam bộ tề chỉnh, ngay ngắn, lịch sự hơn. Bộ trang phục được xem là lễ phục phổ biến ngày xưa là bộ khăn đóng áo dài may bằng loại vải đắt tiền (thường thì áo dài bằng xuyến hay lương đen, còn quần thì màu trắng bằng lụa hay vải). - Nội thiên là của Trang Tử viết (có thể trừ ra một vài đoạn như đoạn Tử Tang Hộ trong thiên Đại «Tắc Dương cũng là ý Đức Sung Phù mà gửi vào đó có lý của Đại Tông Sư, Tề Vật Luận. «Ngoại Vật thì là ý Dưỡng Sinh Chủ mà gửi vào đó lý Tiêu Diêu Du. Ngụ Sự khác biệt của sự vật, sự khác biệt của những khoảng khắc không phải là tuyệt đối. Dù vậy, Trang Chu vẫn là Trang Chu, Bướm vẫn là Bướm. Không có tuyệt đối nối tiếp, cũng không có tuyệt đối đồng thời. Đó là chỗ Borges gặp Trang Chu trong tinh thần Tề vật luận. Liệt Tử Dương Tử Những vị kỳ tài với những triết thuyết giá trị bất biến đến tận ngày nay bao gồm: NGUYỄN HIẾN LÊ Bộ sách BÁCH GIA TRANH MINH viết về 8 vị kỳ tài thời Xuân Thu Chiến Quốc - Mỗi vị đại diện cho một Triết thuyết họ sáng lập - thừa kế có giá trị bất biến đến tận ngày hôm nay. d1vXJ. Trang Tử chữ Hán 莊子; 369—286 TCN[1], có tên là Mông Lại 蒙吏, Mông Trang 蒙莊 hay Mông Tẩu 蒙叟, là một triết gia và tác gia Đạo giáo. Tên thật của ông là Trang Chu 莊周 và tác phẩm của ông sau đều được gọi là Trang Tử. Trang Tử莊子Trang Tử và con ếchTên khácMông Lại 蒙吏, Mông Trang 蒙莊, Mông Tẩu 蒙叟Tên húyTrang Chu 莊周Thông tin cá nhânSinhTên húyTrang Chu 莊周Ngày sinh369 TCNNơi sinhđất Mông Hà Nam, Trung QuốcMất286 TCNGiới tínhnamNghề nghiệpTriết gia, tác giảTriều đạiChiến QuốcSáng tác nổi bậtNam Hoa kinhxts Đạo giáo Học thuyết Đạo Đức Vô cực Thái cực Âm dương Vô vi Tất nhiên Bất tử Ngũ hành Khí Thực hành Bùa lục Chiêm bốc Chú ngữ Đạo dẫn Hành khí Lôi pháp Luyện thần Ngoại đan Nội đan Phục thực Thực liệu Tịch cốc Văn bản Kinh Dịch Âm Phù kinh Bão Phác Tử Đạo đức kinh Độ Nhân kinh Hoàng Đế nội kinh Nam Hoa kinh Liệt tử Linh Bảo kinh Sơn Hải kinh Thái Bình kinh Thượng Thanh kinh Daozang Các vị thần Tam thanh Tứ Ngự Ngọc Hoàng Thượng đế Tây Vương Mẫu Tam Hoàng Ngũ Đế Bát Tiên Thập nhị kim tiên Lục thập thái tuế Nhị thập bát tú Thập Điện Diêm vương Bành Tổ Long vương Đại Tiên Tiên Trung ương Thiên quan Người Lão Tử Trang Tử Trương Đạo Lăng Trương Giác Cát Hồng Trường phái Chân Đại đạo Phái Kim Đan Phái Lầu Quán Phái Linh Bảo Phái Thượng Thanh Phái Tịnh Minh Phái Võ Đang Thái Bình Đạo Thiên sư Đạo Toàn Chân đạo Đất thánh Đạo quán Động thiên Bồng Lai tam đảo Thiên đình Tác phẩm Đông du ký Phong thần diễn nghĩa Tây du ký xts Ông sống vào thời Chiến Quốc, thời kỳ đỉnh cao của các tư tưởng triết học Trung Hoa với Bách Gia Chư Tử. Tư tưởng của Trang Tử là tư tưởng đặc biệt nhất trong bách gia chư tử. Bách Gia Chư Tử những triết lý và tư tưởng ở Trung Hoa cổ đại nở rộ vào giai đoạn từ thế kỷ thứ 6 đến năm 221 TCN trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc Khổng Tử nói, chúng ta phải làm người cho tốt Khắc kỷ phục lễ vi nhân. Nhật nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên. » Khắc phục ham muốn của mình, nói và làm phù hợp với lễ. Ngày ngày làm được như thế, người trong thiên hạ sẽ cùng về đức nhân » Mặc dù Lão tử nổi danh trong Đạo gia, nhưng thực tế, mục đích lý luận Đạo khả đạo, phi thường đạo » của ông vẫn được người đời sử dụng. Nếu có thể nói được đạo là gì, thì đó không phải đạo vĩnh cửu trường tồn Riêng mình Trang Tử không nói đến phẩm chất làm người, không nhắc về đời sống xã hội, không bàn về lý tưởng phấn đấu. Ông chỉ ước ao hạnh phúc, chỉ mong ai cũng tìm được hạnh phúc cho mình. Ông nói Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất. » Trời đất sinh ra cùng với ta, vạn vật với ta là một Từ đầu đến cuối, ông chưa bao giờ phủ nhận bất kỳ ai, chỉ mong ai cũng có thể đạt được hạnh phúc thực sự. Người sống ở đời, có vô vàn lựa chọn khác nhau. Bạn có thể là một người giàu, có thể là một người nghèo. Bạn có thể chọn lấy cuộc sống bình lặng ổn định, cũng có thể sống một cuộc đời mạo hiểm thử thách. Bạn có thể khao khát kiếm thật nhiều tiền, hoặc chỉ cần sống tạm bợ ngày qua ngày, bữa nào hay bữa ấy, phớt lờ thời cuộc thế gian. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, ai cũng đều mong cầu một cuộc sống hạnh phúc, không riêng mình ai. Vậy hạnh phúc ấy bắt nguồn từ đâu ? Là nhờ thân phận, địa vị của bạn à ? Hay dựa vào của cải bạn sở hữu trong tay ? Trang Tử nói với bạn rằng, cái nào cũng không phải. Hạnh phúc của bạn xuất phát từ thế giới nội tâm ẩn sâu trong chính con người bạn mà thôi. Trước khi xử lý câu hỏi về hạnh phúc này, chúng ta hãy giải quyết một vấn đề khác, ấy là, nỗi đau trong cuộc sống bắt đầu từ đâu ? Trang Tử đã đưa ra lời giải đáp trong Tề vật luận » Bàn luận về vạn vật ngang hàng. Ông nói Kỳ hữu chân quân tồn yên, như cầu đắc kỳ tình dữ bất đắc, vô ích tổn hồ kỳ chân. » Có những thứ lần lượt chi phối, định yên mọi vật, hay có một lực lượng làm chủ muôn điều ? Cho dù thật khó để khám phá ra thứ ấy, cũng không ảnh hưởng đến sự tồn tại của bất kỳ điều gì, kể cả chính bản thân thứ kia. Một người có thể phân thành hai cái tôi », một cái tôi tinh thần, một cái tôi thể xác. Cái tôi tinh thần chính là trái tim của bạn, không ngừng cảm nhận thế giới này. Bạn có thể cảm nhận niềm hạnh phúc, cũng có thể cảm thấy nỗi u buồn. Bạn có thể cảm thấy sự thù địch của thế giới nhắm tới bạn, cũng có thể cảm nhận được thiện chí thế gian này giành cho mình. Nhưng dù là loại cảm nhận nào đi chăng nữa, trái tim của bạn mới là chủ nhân chân chính của những nhận định này. Lấy ví dụ, khi một người lạ trên đường giơ tay chào bạn, bạn có thể nghĩ rằng người ta có thiện ý, cũng có thể coi đó là một hành động ác ý đáng ngờ. Người lạ kia chỉ thực hiện một cử chỉ chào hỏi không hơn không kém, nhưng điều thực sự khiến bạn cảm nhận cử chỉ ấy theo chiều hướng tốt hoặc xấu, lại là cảm xúc từ sâu thẳm bên trong. Nhưng tại sao trong thâm tâm bạn lại cảm thấy như vậy ? Bởi vì đấy chính là định kiến ». Kể từ giây phút đặt chân đến thế giới này, chúng ta sẽ không ngừng đánh giá và cảm nhận thế giới bằng đôi mắt của chính bản thân mình. Nhưng liệu những nhận định ấy có là luôn đúng ? Không biết được. Vậy là luôn sai ư ? Không hoàn toàn. Nói vậy, chẳng lẽ phán đoán của người khác lúc nào cũng đúng ? Có thể. Hay những gì họ nói đều sai hết à ? Cũng không hẳn vậy đâu. Thực ra rất khó định nghĩa đâu đúng đâu sai. Ấy vậy, những phán đoán xuất phát tự trong tiềm thức sẽ mang lại cho bạn những cảm giác nhận nhau và những cảm nhận ấy sẽ không ngừng xâm chiếm trái tim, thể xác bạn. Bạn có thể vì những cảm nhận ấy mà vui sống buồn chết, có thể vì những thống khổ kia mà tưởng chừng chẳng thể tiếp tục tồn tại trên cõi đời này. Vậy làm thế nào để thoát khỏi những rằng buộc đó ? Người ta vẫn nói, nhân vô thập toàn, không ai sinh ra mà hoàn hảo cả. Nếu chúng ta nhìn nhận thế giới qua lăng kính của bản thân, sẽ có vô vàn mâu thuẫn nảy sinh, và ta sẽ không bao giờ đưa ra được một câu trả lời chính xác. Càng nỗ lực kiếm tìm lời giải, sự thật càng xa vời khỏi tầm tay ta. Nhưng nếu không bỏ công truy kiếm, ta lại mù mờ chẳng rõ, con đường trước mặt phải đi thế nào cho phải bây giờ ? Đau đớn đã bắt đầu như vậy đấy. Bởi vì chúng ta được sinh ra giữa bao bề bộn như vậy, mới chẳng tìm được câu trả lời mình cần. Nếu vậy thì nên làm gì bây giờ ? Trang Tử nói Xu thủy đắc kỳ hoàn trung, dĩ ứng vô cùng. Thị diệc nhất vô cùng, phi diệc nhất vô cùng dã. Cố viết Mạc nhược dĩ minh » Vòng tròn thị/phi » phải/không phải xoay quanh một điểm chốt, tức cái cốt yếu của Đạo. Chốt ở trung tâm, có thể thích ứng với thiên biến vạn hóa. Đúng sai biến hóa khôn cùng, cách tốt nhất là dùng trái tim sáng suốt soi xét bản chất của muôn sự trên đời. Để bản thân thoát ly hẳn khỏi mọi vấn đề, đứng tại tâm điểm, nhìn lại toàn bộ nhân gian. Tưởng tượng rằng ta đang ở điểm cao nhất đặt tại trung tâm của thế giới, phóng mắt nhìn khắp xung quanh. Thấy được đủ loại người, muôn hình vạn trạng. Thấy cảnh đẹp bốn phương, non nước hữu tình. Thấy cả bản thân trong quá khứ, chìm sâu trong bể khổ đau thương, chẳng có cách nào vẫy vùng thoát khỏi. Thấy rằng có biết bao loại người như thế, ấy vậy mà ai cũng từng trải qua rối bời buồn bã, chán chường thờ thẫn giống ta. Có người nói, chúng sinh đều khổ. Đấy chính là xã hội mà chúng ta đang sống. Chỉ vậy mà thôi. Những gì bạn trải qua là những gì nên được trải qua với tư cách là một con người. Bởi vậy, nhân sinh vô giải. Lối ra duy nhất là mở một cánh cửa sổ cho tâm hồn, ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài. Trong Plato on utopia », Plato có nói đại khái thế này Chúng ta ai cũng đều sống ở trong một cái hang nọ, hai tay trói chặt và lưng hướng về cửa hang. Tia sáng xa xăm len lỏi qua cửa hang động, chiếu lên thân thể chúng ta, rọi bóng hình ta lên vách đá trước mặt. Mỗi người chúng ta chỉ có thể thấy được bóng mình loạng choạng chếch choáng hằn trên thành động, lại chẳng biết thế giới ngoài kia rộng lớn nhường nào. Tôi nghĩ rằng, Trang Tử muốn kể cho chúng ta về một người đã tìm thấy cửa hang kia, và bước ra bên ngoài. Trong Tiêu dao du », ông có viết Miểu cô xạ chi sơn, hữu thần nhân cư yên. Cơ phu nhược băng tuyết, náo ước nhược xử tử, bất thực ngũ cốc, hấp phong ẩm lộ, thừa vân khí, ngự phi long, nhi du hồ tứ hải chi ngoại; kỳ thần ngưng, sử vật bất tỳ lệ nhi niên cốc thục » Trên núi Diễu – Cô Tạ có thần nhân ở, da thịt như băng tuyết, dáng điệu mềm yếu như người con gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, chỉ hớp gió, uống sương, nương theo hơi mây, cỡi rồng mà bay ngao du ngoài bốn biển. Ngưng thần lại thì có thể làm cho vạn vật không đau ốm hư hoại, lúa thóc lại được mùa Một vị thần nhân đã đắc đạo siêu thoát, sống trong tiên cảnh, da thịt trong suốt, chỉ nếm gió thưởng sương, nương gió đến, cưỡi mây đi, tiêu dao tự tại, người người hâm mộ. Thực ra ông đang dùng phép ẩn dụ, nói với chúng ta rằng mặc dù chẳng thể lay chuyển, trốn thoát khỏi cuộc sống này, nhưng thế giới tinh thần trong mỗi người đều có thể thăng hoa. Chỉ khi bạn thực sự siêu thoát, bạn mới có thể cảm nhận được hạnh phúc thực sự. *Siêu thoát Vượt ra khỏi mọi ràng buộc ở đời. Theo Phật còn có nghĩa là thoát ly, đứng ngoài vòng sinh tử luân hồi. Chỉ khi bạn học cách căm ghét » thế giới này, một chân trời khác mới mở ra trước mắt. Sự ghét bỏ ấy không phải ghét theo cách bạn nghĩ, mà là để bạn thoát khỏi mọi thứ, dùng ánh mắt khách quan chiêm nghiệm nhân sinh của chính bản thân mình. Nhìn thấu thế giới mà có người ngu thì có kẻ gạt, thấu hiểu khó khăn bấy lâu nay vẫn hành hạ mỗi người, bạn mới chợt ngộ ra rằng Thế giới này cũng chỉ như vậy, nhưng cuộc sống của ta không chỉ dừng lại ở đấy, còn bao cảnh đẹp hữu tình ta muốn chiêm ngưỡng, bao núi cao biển rộng ta muốn chinh phục bằng hết thảy sức mình. Thực lòng mà nói, sau khi đọc hết lắm chương nhiều chữ của Bách gia chư tử, Trang Tử là người chạm đến nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn tôi. Phẩm cách bên ngoài quả thực rất quan trọng, nhưng tu dưỡng nội tâm mới là điều kiện tiên quyết đưa bạn đến bất kỳ đâu. Nếu trong lòng bạn không có một ngọn hải đăng sáng rực, sao bạn có thể tìm thấy hòn đảo bạn hằng mong đợi giữa biển cả bao la ? Trang Tử chính là người đã chỉ cho bạn con đường ấy. Bởi vậy, trong lòng tôi, Trang Tử là một đạo sĩ thực sự. Thực tế, Trang Tử cũng có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều tác phẩm văn học cũng như nhiều văn sĩ nhiều thế hệ tiếp theo. Ví dụ, trong bài thơ Ấm tửu kỳ 5 » của Đào Uyên Minh, có câu Thái cúc đông ly hạ. Du nhiên kiến nam sơn. » Dưới chân rào Đông hái nhành cúc. Khoan thai nhàn nhã ngắm núi Nam Phạm Trọng Yêm từng viết Bất dĩ vật hỉ, bất dĩ dĩ bi. *» * Không vui vì cảnh, không buồn vì mình – trích Nhạc dương lâu ký » Hay trong bài từ Thủy điệu ca đầu Trung thu » của Tô Thức có đôi dòng dưới đây Nhân hữu bi hoan ly hợp Nguyệt hữu âm tình viên khuyết Thử sự cổ nan toàn. » Người có lúc buồn vui ly hợp Trăng có lúc mờ tỏ vơi đầy Xưa nay khó gì trọn bề nguyên vẹn. Và thật nhiều những áng văn khác. Bạn có thể cảm nhận được tâm hồn cởi mở phóng khoáng và phẩm chất lạc quan của họ qua từng chữ từng từ. Vậy ai là người đã truyền cảm hứng ấy cho họ ? Không ai khác ngoài Trang Tử. Bởi vì, bọn họ cũng đã tìm ra được một thế giới khác, qua những lời Trang Tử để lại nơi đây. Và hạnh phúc thực sự bọn họ có được, âu cũng là nhờ việc họ rũ bỏ được những chấp niệm về thực tại, dành hết tâm sức để tìm kiếm niềm vui cho chính bản thân mình. _______________ Chú thích phần dịch thơ/giải nghĩa vừa dựa vào giải nghĩa tiếng Trung, vừa tham khảo bản dịch của một số dịch giả. Nguồn Vietwriter 310 Chương này là chương quan trọng nhất, chứa nhiều tư tưởng độc đáo nhất trong bộ sách. Trang tử trình bày vũ trụ quan của ông để rút ra một luật thiên nhiên luật vạn vật tuyệt đối bình đẳng, không có quí tiện, không có thị phi, và một phép xử thế không tranh luận, để cứu một cái tệ đương thời, là triết gia nào cũng đả đảo các triết gia khác, tự cho mình mới thực nắm được chân lý. 1[edit] Nam Quách Tử Kì [101] ngồi tựa cái bàn con, ngước mắt lên trời, thở dài, như người mất hồn. Nhan Thành Tử Du [102] đứng hầu một bên, hỏi – Sao thầy tới nỗi như vậy? Hình hài như một cây khô mà tinh thần thì như tro tàn? Người tựa vào bàn lúc này với người tựa vào bàn lúc nãy, không phải là cùng một người sao? Tử Kì đáp – Anh Yển, anh hỏi như vậy là phải? Thầy đã tự quên thầy, anh biết không? Anh đã được nghe tiếng sáo của người mà chưa được nghe tiếng sáo của đất; hoặc đã được nghe tiếng sáo của đất mà chưa được nghe tiếng sáo của trời thiên lại. – Xin thầy giảng cho con thế nào là nghĩa làm sao? – Đất thở thì thành gió. Gió không thổi thì thôi, đã thổi thì cả vạn hang lỗ đều gào thét lên. Anh có nghe gió hú bao giờ chưa? Trên rừng núi cao ghê gớm có những cây lớn chu vi được cả trăm gang tay[103], thân cây có hang có lỗ, như lỗ mũi, lỗ tai hoặc miệng người; lại có những lỗ vuông như lỗ đục trong các đà ngang, hoặc lỗ mắt cáo; có lỗ như miệng cối, như ao sâu, như vũng cạn. Gió thổi thì những lỗ ấy phát ra những tiếng khác nhau, có khi như tiếng nước chảy ào ào, có khi như tiếng tên bay vút vút; có khi như tiếng thú gầm, như tiếng thở nhẹ; có khi như tiếng người mắng mỏ, khóc lóc, than thở; có khi như tiếng chim ríu rít, như tiếng người đi trước hô, người đi sau đáp. Gió hiu hiu thổi thì nghe du dương; gió lớn nổi lên thì nghe ào ào. Gió lớn ngừng rồi, các hang lỗ lại im lặng, mà anh có thấy cành lá lúc đó chỉ hơi lay động không?[104] Tử Du thưa – Vậy tiếng sáo của đất tức âm nhạc của đất là do các hang lỗ cả, cũng như tiếng sáo của người là do các ống trúc. Thế còn tiếng sáo của trời, xin thầy giảng cho con. Tử Kỳ đáp – Tiếng sáo của trời gồm những thanh âm biến hóa cả vạn cách mà mỗi thanh âm chỉ tự nó phát ra mà thôi. Nhưng ai khiến cho các thanh âm đó tự nhiên phát ra như vậy?[105] 2[edit] Đại trí thì bao quát, tiểu trí thì phân biệt những cái nhỏ nhặt; lời nói sâu sắc thì sáng rõ, lời nói thô thiển thì rườm, tế toái. Khi ngủ thì tinh thần hôn mê, khi tỉnh dậy thì thân thể cử động. Tiếp xúc với người khác thì tự nhiên dụng tâm mưu mô. Do đó mà sinh ra do dự, giả dối, ẩn ý. Hơi lo sợ thì sinh ra xao xuyến, ưu tư; quá lo sợ thì sinh ra trì độn, mất hồn. Khi ta hành động thì nhắm người khác như bắn con mồi, rồi thì bất động để nhận định thắng lợi của mình. Do đó khí lực mỗi ngày suy đi như sinh vật vào mùa thu, mùa đông; chìm đắm trong thói xấu, ngột ngạt, càng già càng tệ; hậu quả là tinh thần như chết lần, không sao lấy lại được sinh khí nữa. Mừng giận, vui buồn, lo lắng, ân hận, phản phúc, sợ sệt, phóng túng, biếng nhác, khinh cuồng, ngạo mạn, tất cả những cái đó tự chúng phát sinh ra như âm nhạc phát từ một ống rỗng ống sáo hoặc như nấm từ hơi đất ẩm ướt mà ra. Ngày, đêm nối tiếp nhau, ai biết được từ đâu mà có? Hỡi ơi, hỡi ơi; bao giờ chúng ta mới hiểu được lẽ sinh hoá trong vũ trụ? Không có cái không phải là ta thì không có ta. Nhưng không có ta thì không thể hiện được sự biến hoá của tự nhiên. Như vậy ta với tự nhiên thật mật thiết với nhau. Nhưng không ai biết được chủ thể của vũ trụ là gì.[106] Ví thử có một chủ tể thực đi thì chúng ta cũng không thấy có dấu hiệu, vết tích gì của nó. Thấy tác động mà không thấy hình thể của nó. Chẳng hạn thân thể con người gồm một trăm cái xương, chín cái lỗ[107] và sáu bộ phận ở trong lục tạng[108]. Chúng ta quí cái nào? Hay quí hết? Hay quí vài cái? Chúng đều phục dịch ta? Chúng đều bị động hết? Cái gì làm chủ tể chi phối chúng? Chúng chi phối và phục vụ lẫn nhau? Nếu có một cái thực là chủ tể chúng thì dù ta hiểu biết hay không hiểu biết nó, cũng không làm tăng hay giảm cái chân thực của nó. Khi ta đã nhận được cái hình hài của ta rồi thì ta giữ nó cho tới khi chết. Nó với những vật khác đâm nhau, mài cọ vào nhau, cùng bôn tẩu như những con ngựa, mà không có gì làm cho ngừng được. Buồn thay! Suốt đời khó nhọc mà không thành công gì cả; tân khổ, mệt mỏi mà không biết để đi tới đâu. Đáng thương thay! Như vậy mà bảo là sống, thử hỏi có ích gì không? Hình hài mà biến hoá thì tinh thần cũng biến hoá. Đó chẳng phải là điều rất thương tâm ư? Người đời mê muội như vậy ư? Chỉ riêng tôi mê muội, còn người khác không mê muội chăng? Để cho thành kiến của mình làm thay mình, sai khiến mình, như vậy thì ai cũng có thầy hết, còn cần gì nhận người khác làm thầy nữa? Vì tinh thần của mình làm thầy mình, cho nên người ngu cũng có thầy rồi. Kẻ nào muốn vượt thành kiến của mình để phân biệt thị phi thì cũng không khác gì bảo rằng hôm nay đi qua nước Việt mà đã tới đó từ hôm qua rồi, nghĩa là coi cái không có là có. Về điểm đó, thần minh như ông Vũ[109] cũng không thể biết được. Tôi làm sao mà biết được? 3[edit] Nói không phải chỉ là phát hơi ra thành tiếng. Nó là để diễn một cái gì. Nhưng cái ý muốn diễn ấy không hoàn toàn do lời nói định được [nghĩa là lời không sao diễn hết được ý], vậy thì có lời nói không [nghĩa là lời nói có ý nghĩa không], hay không có lời nói [nghĩa là lời nói vô nghĩa, chỉ như hơi phát từ miệng ra thôi]. Lời nói khác với tiếng chim con chíp chíp, nhưng vì lời nói không hẳn diễn được ý nghĩa, như vậy thì rốt cuộc có phân biệt được hai cái đó không? Đạo bị cái gì che lấp tới nỗi phải phân biệt chân với nguỵ? Lời nói bị cái gì che lấp tới nỗi phải phân biệt phải với trái? Khi nào thì đạo không còn, khi nào thì lời không chấp nhận được? Đạo bị thành kiến nhỏ nhen che lấp; lời nói bị sự hoa mĩ phù phiếm che lấp. Do đó mà phái Nho, phái Mặc tranh luận với nhau. Cái gì phái này cho là phải thì phái kia cho là trái; cái gì phái này cho là trái thì phái kia cho là phải. Muốn thấy điểm phải trong chỗ họ cho là trái, thấy điểm trái trong chỗ họ cho là phải, [nghĩa là muốn thấy phái nào cũng có lí một phần, mà không phái nào hoàn toàn có lí], thì không gì bằng dùng trực giác [đừng lí luận, tranh biện].[110] Vật nào cũng là vật khác mà cũng là chính nó. Phân biệt vật và mình thì không thấy được lẽ đó, hoà đồng với vật thì thấy được. Cho nên mới bảo cái kia là tự cái này mà ra, mà cái này cũng tự cái kia mà có. Chẳng hạn người ta phân biệt sống và chết, sự thực sống cũng là chết, chết cũng là sống. Cái có thể được cũng là không thể được, cái không thể được cũng là cái có thể được. Xác nhận cũng là phủ nhận, phủ nhận cũng là xác nhận. Thánh nhân không chấp nhất nên mới rực rỡ ở trên trời. Mình là người khác, người khác cũng là mình. Người kia có quan niệm của họ về thị, phi. Mình cũng có quan niệm của mình về thị, phi. Có sự khu biệt thực nào giữa mình và người kia không? Mình và người đừng chống đối nhau nữa, cái chốt [tức cái cốt yếu] của Đạo ở đó. Cái chốt đó ở trung tâm cho nên ứng với các biến hoá vô cùng. Cái “thị” phải biến hoá vô cùng, mà cái “phi” không phải cũng biến hoá vô cùng. Cho nên mới bảo Không gì bằng dùng trực giác. Muốn dùng cái ý niệm độc lập, tuyệt đối để chứng rằng những biểu hiện của ý đó trong sự vật không phải là ý niệm độc lập, tuyệt đối, thì sao bằng dùng cái phi ý niệm[111] để chứng rằng những ý niệm biểu hiện trong sự vật không phải là ý độc lập, tuyệt đối. Muốn chứng rằng con ngựa trắng không phải con ngựa thì sao bằng dùng ý niệm “phi mã” không phải con ngựa để chứng rằng ngựa trắng không phải là ngựa[112]. Sự thực vũ trụ chỉ là một ý niệm, mà mọi vật chỉ là một con ngựa[113]. 4[edit] Có đi rồi mới thành đường; có đặt tên rồi mới phân biệt vật này vật khác. Làm sao bảo một vật là nó như vậy? Vì nó như vậy nên bảo nó như vậy. Làm sao bảo một vật không phải như vậy[114]? Vì nó không như vậy nên bảo nó không như vậy. Làm sao bảo một vật là “có thể”. Bảo một vật là có thể vì nó có thể. Làm sao bảo một vật là không có thể. Bảo một vật là không có thể là vì nó không có thể. Vật nào cũng có cái “như vậy” của nó, vật nào cũng có cái “có thể” của nó[115]. Cho nên một cọng cỏ nhỏ với một cây cột lớn, một người đàn bà xấu với nàng Tây Thi, với tất cả các cái bậy bạ, dối trá, quái dị đều hợp nhất ở trong Đạo hết. Cái nhất đó phân chia ra thành vạn vật, phân chia ra rồi thì không còn cái trước nữa mà cái này sẽ mất đi. [nghĩa là có sinh thì có diệt, có diệt thì có sinh]. Nhưng không vật nào có sinh thành, có huỷ diệt vì rốt cuộc lại hợp nhất ở trong Đạo. Chỉ có hạng đạt Đạo mới hiểu được sự hợp nhất đó mà bỏ thành kiến đi để theo lẽ trung dung bình thường. Trung dung thì thực hành được, thực hành được thì thông [có kết quả, không tắt nghẽn], thông thì “được việc”[116] [thành công]. Được việc là gần tới Đạo [vì phải hiểu Đạo rồi mới được việc]. Phải xác nhận sự kiện. Thực hiện mà không hiểu tại sao, đó là Đạo[117]. 5[edit] Cứ cố chấp tin vào một điều thôi mà không biết rằng điều ấy cũng y hệt các điều khác, như vậy là có tinh thần “sáng ba”. Câu chuyện “sáng ba” như vầy Xưa có một ông già nuôi khỉ, bảo chúng “Tao cho chúng bây sáng ba [trái lật[118]], chiều bốn [trái]. Chúng bây chịu không?”. Chúng đều bất bình. Ông già bèn bảo “Thế thì sáng bốn [trái], chiều ba. Chịu không?”. Chúng đều mừng. Sự thực có gì thay đổi đâu mà lần trước chúng nổi giận, lần sau mừng. Ông già đó đã khéo thuận theo bản tính của loài khỉ. Cho nên thánh nhân dung hoà, coi thị phi là một, mà theo luật quân bình tự nhiên. Như vậy gọi là “lưỡng hành”[119]. 6[edit] Cổ nhân có người tri thức đạt được tới cực điểm. Cực điểm đó ở đâu? Ở chỗ cho rằng thời sơ khởi vũ trụ chưa có vật đó là điểm cực xa, cực cao mà tri thức đạt được, không thể thêm gì được nữa. Hạng người thấp hơn cho rằng thời sơ khởi đã có cái gì đó, nhưng cái đó không nhất định[120]. Hạng thấp hơn cho rằng cái đó đã nhất định nhưng bảo không có thị phi phải trái, xấu tốt. Từ khi có quan niện thị phi, ý niệm về Đạo mới suy. Ý niệm về Đạo suy rồi mới có lòng tự ái lòng yêu ích kỉ. Thật ra có gì là thành và bại không? Hay là không có? Như trường hợp Chiêu Văn[121] chơi đàn cầm, chứng là có thành và bại; Chiêu Văn không chơi đàn cầm thì không chứng được là có thành có bại. Chiêu Văn chơi đàn cầm, Sư Khoáng[122] gõ nhịp; Huệ tử dựa một cây ngô đồng [mà biện thuyết]; ba bậc đó tài trí cực cao, giữ được danh tiếng cho hết đời. Sở thích của họ khác với của mọi người. Họ đều muốn cho người khác hiểu cái mà người ta không hiểu nổi, nên Huệ Thi mới làm hỏng đời ông bằng thuyết “kiên bạch” cứng và trắng[123], mà con Chiêu Văn muốn nối nghiệp cha đến nỗi suốt đời không thành công. Nếu như vậy [tức xét riêng từng người một] mà gọi là thành công thì bất tài như tôi cũng thành công. Nếu như vậy không gọi là thành công được [tức xét chung cả mọi người, mà không phải ai cũng giỏi, thành công như ba nhà đó được], thì tôi và người khác, chẳng ai thành công cả[124]. Thánh nhân chê cái thói làm cho người đời mê loạn, nghi ngờ, nên bỏ hết thành kiến, theo lẽ trung dung tầm thường thôi, như vậy là dùng đến trực giác[125]. 7[edit] Nay có người đưa ra một phán đoán. Không biết nó có giống với những phán đoán của người khác hay không. Giống hay không thì chúng cũng là một loại với nhau cả, vậy có khác gì nhau đâu[126]. Tôi xin đưa ra một thí dụ. Một người bảo rằng vũ trụ có khởi thuỷ; một người khác bảo không có khởi thuỷ, một người nữa bác thuyết người thứ nhì dùng để bảo vủ trụ không có khởi thuỷ. Nói cách khác một người bảo mới đầu vũ trụ có cái gì đó hữu[127], một người khác bảo mới đầu vũ trụ không có cái gì đó vô; một người nữa bác cái thuyết mới đầu vũ trụ không có cái gì đó; lại một người thứ tư khác nữa bác cái thuyết người thứ ba dùng để bác cái thuyết mới đầu vũ trụ không có gì cả. Khi thì có hữu, khi thì không vô. Mà không biết cái “có”, cái “không” đó có thực là “có”, có thực là “không” không. Tôi mới đưa ra một ý kiến, nhưng nó có thực là ý kiến hay là không có ý kiến gì cả. Trên đời không có gì lớn bằng đầu chiếc lông mùa thu[128], mà núi Thái Sơn[129] thì nhỏ. Không ai thọ bằng đứa trẻ chết yểu, mà không ai yểu bằng ông Bành Tổ. Trời đất cùng sinh ra với tôi; vạn vật và tôi hợp nhất, chỉ là một. Vũ trụ đã hợp nhất thì làm sao còn nói về nó được nữa[130]. Vũ trụ đã hợp nhất thì làm sao lại không nói về nó được[131]. Cái “nhất” đó thêm cái ta nói về nó, thế là hai cái rồi; hai cái đó với cái “nhất” nguyên thuỷ thành ra ba. Cứ như vậy mà tính tiếp thì người giỏi tính cũng đành chịu[132]; huống hồ là người thường. Như vậy là từ “không” vô tới “có” hữu đã có ba ý khác nhau rồi; huống hồ từ “có” tới “có”, sẽ có cơ man nào là ý. Đừng suy luận gì hết [nghĩa là quên ngôn ngữ, ý tưởng đi] thì thấy được đạo. 8[edit] Đạo không có giới hạn, mà ngôn ngữ thì không chắc chắn[133]. Do ngôn ngữ mới có những sự phân biệt này nọ. Chẳng hạn chúng ta phân biệt bên phải bên trái, thứ tự và sai đẳng[134], phân và biện[135], cạnh và tranh[136] đó là tám loại biểu hiện. Mà cái gì ở ngoài vũ trụ thì thánh nhân không cho là có, không nói tới; cái gì ở trong vũ trụ thì thánh nhân nói tới mà không phê bình. Bộ sử Xuân Thu và chuyện chép về các tiên vương, thánh nhân đem ra bàn mà không tranh biện. Sau mỗi cái phân biệt có một cái gì không phân biệt được; sau mỗi cái biện luận có một cái gì không biện luận được. Tại sao vậy? Vì thánh nhân thấu triệt được toàn diện, còn người thường chấp nhất cãi nhau để thắng người khác. Cho nên bảo “Hễ biện luận là chỉ thấy được phiến diện”. Đại Đạo không có tên, đại biện luận thì không nói; đại nhân nhân từ thì không yêu riêng ai; đại liêm khiết thì không có hình tích; đại dũng thì không hung hăng. Cái Đạo mà minh thị ra rồi thì không phải là Đạo; biện mà phải dùng lời nói thì không đạt được chân lí; nhân từ mà cố định[137] thì không hoàn toàn là nhân; liêm khiết mà phô trương thì không được người ta tin; dũng mà tranh đấu hoặc tới tàn bạo thì không thành công. Như vậy là năm cái đó vốn hồn nhiên, viên thông mà hoá ra có cạnh góc. Biết rằng có những điều mình không thể biết được, đó là đạt được cực điểm của “trí”. Người nào biết biện luận mà không dùng lời, biết rằng Đạo thì không có tên, là có được cái kho của trời thiên phủ, đổ vô mà không bao giờ đầy, múc ra mà không bao giờ cạn, mà không biết tại sao. Như vậy gọi là “che ánh sáng đi” [đừng cho nó chiếu ra ngoài, mà ở trong sẽ sáng hơn]. 9[edit] Xưa vua Nghiêu hỏi ông Thuấn – Tôi muốn đánh các nước Tông, Khoái và Tư Ngao[138], nhưng mỗi khi lâm triều, tôi thấy lòng không yên. Tại sao vậy? – Vua ba nước đó ở chỗ hoang vu đầy lau sậy. Lòng nhà vua không yên là vì đâu ư? Xưa mười mặt trời cùng xuất hiện, chiếu sáng vạn vật. Đạo đức há chẳng chiếu sáng hơn mặt trời ư[139]? 10[edit] Niết Khuyết hỏi môn đệ là Vương Nghê[140] – Anh có biết một chân lí tuyệt đối không? [nghĩa là được mọi vật chấp nhận]. Vương Nghê đáp – Làm sao con biết được? – Anh có biết rằng anh không biết chân lí đó không?[141] – Làm sao con biết được? – Vậy ra vạn vật không biết gì cả sao? Vương Nghê đáp – Làm sao con biết được? Nhưng con thử rán đưa ra ý kiến của con. Làm sao người ta có thể biết được cái mà con bảo là “biết” lại không phải là “không biết”; mà cái con bảo là “không biết” lại không phải là “biết”? Chẳng hạn một người nằm chỗ ẩm thấp trong bùn mà đau lưng tê liệt nửa người, nhưng một con lươn thì có sao không? Một người ngồi trên ngọn cây thì run rẩy sợ sệt, nhưng con khỉ có vậy không? Chỗ ở của người và hai con vật ấy, chỗ nào là lí tưởng chính xứ? Người ta ăn thịt dê, bò, chó, lợn; hươu nai ăn cỏ; rết thích ăn rắn con; cú mèo và quạ thích ăn chuột. Khẩu vị của bốn loài đó, khẩu vị nào là lí tưởng chính vị? Khỉ đực sống với vượn cái; nai đực sống với hươu cái; lươn sống chung với cá; nàng Mao Tường và nàng Lệ Cơ[142] được mọi người khen là đẹp, vậy mà thấy họ tới thì cá lặn sâu, chim bay cao, hươu nai chạy dài. Cái đẹp theo bốn loài đó, cái đẹp nào là lí tưởng chính sắc? Theo con thì phân biệt nhân, nghĩa, thiện, ác chỉ là rối mù thôi. Làm sao mà phân biệt được? Niết Khuyết lại hỏi – Anh không biết được lợi hại, nhưng bậc “chí nhân” [đức tuyệt cao] có biết lợi hại không? – Thưa, bậc chí nhân là thần rồi. Đồng cỏ có cháy cũng không làm cho họ thấy nóng, sông rạch đóng băng cũng không làm cho họ thấy lạnh, sét đánh đổ núi, gió làm dậy sóng cũng không khiến cho họ sợ. Họ chế ngự gió mây, cưỡi mặt trời mặt trăng mà đi chơi ngoài bốn bể, không quan tâm tới sống, chết, huống hồ là tới lợi hại? 11[edit] Cồ Thước tử hỏi Trường Ngô tử[143] – Tôi nghe Khổng tử[144] bảo Thánh nhân không dự vào việc đời, không mưu đồ cái lợi, tránh né cái hại, được người ta vời cũng không mừng, không theo thói đời[145]. Thánh nhân không nói tức là nói đấy, mà nói tức là không nói đấy. Nhờ vậy mà siêu thoát ra ra ngoài cõi trần tục. Thầy chúng ta cho đó là những lời vu khoát mơ hồ. Nhưng tôi cho là những lời phát hiện được cái đạo kì diệu. Còn anh, anh nghĩ sao? Trường Ngô tử đáp – Ngay Hoàng Đế[146] cũng hoang mang về điều đó, thì làm sao mà [Khổng] Khâu biết được? Tính anh vội vàng quá. Mới thấy cái trứng anh đã muốn nghe gà gáy sáng rồi, mới thấy viên đạn đã muốn có thịt chim “hào”[147] quay rồi. Để tôi giảng bậy chơi, mà anh cũng nghe bậy chơi nhé. Có phải là thánh nhân theo mặt trời mặt trăng, ôm vũ trụ, hợp nhất với vạn vật, bỏ hết cả mọi sự hỗn độn, u ám, coi các sự tôn ti, quí tiện là một không? Người phàm lao khổ vì sự thị phi, tranh luận, thì thánh nhân thì có vẻ như ngu muội vô tri, đạt được cái thuần khiết của cái “nhất”[148] nó bao quát mọi biến hoá của mọi thời và mọi vật. Làm sao tôi biết được ham sống không phải là một thái độ lầm lẫn? Làm sao tôi biết được kẻ sợ chết không giống như một em nhỏ lạc lối, quên mất đường về nhà? Nàng Lệ Cơ là con gái viên quan giữ biên giới ở đất Ngải. Khi vua Hiến Tông nước Tấn đón nàng về cung, nàng khóc tới uớt đẫm vạt áo, nhưng về tới hoàng cung, cùng vua đồng sàng, nếm cao lương mĩ vị, nàng hối hận giọt lệ ngày xưa. Vậy làm sao tôi biết được khi chết rồi, người ta lại không ân hận rằng trước kia ham sống? Có người nằm mộng thấy được uống rượu ăn tiệc, tỉnh dậy tiếc mà khóc; lại có người nằm mộng thấy mình khóc rồi thức vậy vui như đi săn. Mà hai hạng người đó trong khi nằm mộng không biết rằng mình nằm mộng, đôi khi nằm mộng thấy rằng mình nằm mộng, tới khi tỉnh mới biết rằng mình nằm mộng. Và chỉ khi nào đại giác tỉnh lớn mới biết rằng đã qua một “đại mộng” giấc mộng lớn. Bọn ngu tự cho mình là tỉnh khi coi vua là quí, còn kẻ chăn trâu là hèn. Thật là cố chấp! Khổng Khâu với anh đều là nằm mộng hết. Mà tôi bảo anh là nằm mộng, thì chính tôi cũng nằm mộng nữa. Những lời đó người thường cho là quái dị, nhưng một vạn năm về sau sẽ có một đại thánh nhân hiểu được. Thời gian đó không dài gì chỉ như từ sáng tới chiều thôi. 12[edit] Giả sử tôi tranh biện với anh mà anh thắng tôi thì có nhất định là anh phải, tôi trái không? Nếu tôi thắng anh thì có nhất định là tôi phải, anh trái không? Trong chúng ta có một người phải, một người trái?[149] Hay cả hai chúng ta đều phải cả hoặc đều trái cả? Anh và tôi làm sao biết được điều đó? Mà một người thứ ba nào khác thì cũng hồ đồ không biết được, lựa ai sáng suốt làm trọng tài đây? Hỏi một người cùng một ý kiến với anh, thì người đó do lẽ cùng ý kiến với anh, làm sao có thể phê phán được? Nếu là một người cùng ý kiến với tôi thì người này do lẽ cùng ý kiến với tôi, làm sao có thể phê phán được? Nếu là một người ý kiến khác cả tôi lẫn anh, hoặc giống cả tôi lẫn anh thì cũng làm sao phán đoán được? Vậy anh, tôi và người thứ ba đó đều không quyết được ai phải, ai trái. Có nên đợi một người thứ tư nữa không? 13[edit] Thế nào là hoà hợp với “thiên nghê” [150]phán đoán hợp với lí tự nhiên, chứ không phải theo tiêu chuẩn vốn dĩ thiên lệch của loài người. Hoà hợp với thiên nghê là [chấp nhận ý kiến của người, và] bảo không phải cũng là phải[151]. Nếu cái gì phải mà quả thực là phải thì nó khác hẳn với cái gì không phải rồi, như vậy không còn phải tranh biện nữa. Nếu cái gì như vậy quả thực là như vậy thì nó khác hẳn cái gì không như vậy rồi, trong trường hợp đó, cũng không còn phải tranh biện nữa. Một chuyển động và một thanh âm tuỳ thuộc nhau mà cơ hồ như không tuỳ thuộc nhau[152]. Phán đoán mà hoà hợp với “thiên nghê” là biết tuỳ theo hoàn cảnh thay đổi, như vậy thì đạt được tới vô cực, sống được trọn đời. Quên tuổi mình, quên thị phi đi, ngao du ở chỗ vô cảnh giới hư vô và gởi mình trong cõi đó. 14[edit] Cái bóng của cái bóng[153] hỏi cái bóng – Lúc nãy anh đi, bây giờ anh ngừng. Lúc nãy anh ngồi, bây giờ anh đứng. Tại sao anh không có thái độ độc lập vậy? Cái bóng đáp – Tôi sở dĩ như vậy là vì tuỳ thuộc một cái gì. Cái gì đó lại tuỳ thuộc một cái gì khác. Tôi tuỳ thuộc một cái gì thì cũng như con rắn tuỳ thuộc vẩy[154] của nó, con ve tuỳ thuộc cánh của nó. Làm sao tôi hiểu được cái gì làm cho tôi lúc thì thế này, lúc thì thế khác? 15[edit] Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hoá bướm vui vẻ bay lượn, mà không biết mình là Chu. Rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hoá bướm hay là bướm mộng thấy hoá Chu. Trang Chu với bướm tất có chỗ khác nhau. Cái đó là gọi là “vật hoá”[155]. NHẬN ĐỊNH[edit] Chương này là chương quan trọng nhất, chứa nhiều tư tưởng độc đáo nhất trong bộ sách. Trang tử trình bày vũ trụ quan của ông để rút ra một luật thiên nhiên luật vạn vật tuyệt đối bình đẳng, không có quí tiện, không có thị phi, và một phép xử thế không tranh luận, để cứu một cái tệ đương thời, là triết gia nào cũng đả đảo các triết gia khác, tự cho mình mới thực nắm được chân lí. Trong bài 6, Trang tử bảo “Cổ nhân, người nào trí tuệ đạt tới tuyệt đỉnh, cho rằng vũ trụ mới đầu không có gì cả”. Bài 2, ông lại bảo “Không ai biết chủ tể của vũ trụ là gì. Ví thử có một chủ thể đi thì chúng ta cũng không thấy cái dấu hiệu, vết tích gì của nó. Thấy tác dụng mà không thấy hình thể của nó”. Chủ trương đó thật rõ ràng ông không chấp nhận có một vật hữu hình sinh ra vạn vật. Không có một Thượng đế như Nho gia và Mặc gia quan niệm. Mới đầu chỉ có một cái gì đó, có lẽ là luật thiên nhiên, mà ông gọi là Đạo. Đạo siêu thời gian, vô hình sắc, mà biến hoá vô cùng bài 3. Như khi gió thổi, cả vạn hang, lỗ đều vang động lên, phát ra những tiếng khác nhau, “có khi như tiếng nước chảy ào ào, có khi như tiếng tên bay vút vút; có khi như tiếng thú gầm, như tiếng thở nhẹ; có khi như tiếng người mắng mỏ, khóc lóc, than thở; có khi như tiếng chim ríu rít…” bài 1, nhưng hết thảy những tiếng đó đều do “đất thở” tức gió mà phát ra cả. Đạo đó không có tên gọi ý này cũng chính là ý của Lão tử trong Đạo Đức kinh Đạo khả đạo phi thường đạo; khi Đạo mà đã minh thị ra rồi thì không phải là Đạo bài 8. Vì Đạo gồm vạn vật, vạn vật hợp nhất vào Đạo bài 4, chúng ta chỉ là một phần tử của Đạo, không thể biết được Đạo một phần tử làm sao biết được toàn thể, không thể chỉ rõ, giảng nó là cái gì. Cho rằng mình biết được Đạo, là nói bậy, nhận rằng mình không biết được nó, mới là sáng suốt. Biết rằng có những điều mình không thể biết được, đó là đạt được cực điểm của “trí” – bài 8. Vậy Trang cơ hồ chủ trương thuyết “bất khả tri”. Tuy không hiểu được Đạo, nhưng hạng đại trí, đạt Đạo, biết rằng vạn vật hợp nhất ở trong Đạo, nên không phân biệt vật này, vật khác, mình với vật “Vật nào cũng là vật khác mà cũng là chính nó. Phân biệt vật và mình thì không thấy được lẽ đó, hoà đồng với vật thì thấy được. Cho nên mới bảo cái kia là tự cái này mà ra, mà cái này cũng tự cái kia mà có … Mình là người khác, người khác cũng là mình” bài 3. Ở đây ta thấy Trang tử vượt Mặc tử. Mặc tử bảo phải yêu mọi người như mình, nghĩa là còn phân biệt người và mình. Trang thì không người là mình, mình là người. Yêu hay ghét không thành vấn đề nữa cứ theo tự nhiên, thì cũng như yêu mọi người, mọi vật rồi. Tôi không muốn gọi thuyết của ông là “siêu ái” để so sánh với thuyết “kiêm ái” của Mặc, vì ông không chủ trương “ái”, nhưng tư tưởng của ông quả là cao hơn Mặc nữa. Mà cao hơn tức là khó thực hiện hơn. Đã cùng là những phần tử của Đạo cả, nên vạn vật ngang nhau. Thân thể con người gồm một trăm cái xương, chín cái lỗ và sáu “tạng”, có cái nào đáng quí hơn cái nào đâu? Chúng đều là bộ phận của thân thể, đều phục dịch cho ta. Một cái bị bệnh thì những cái khác cũng bị ảnh hưởng lây, mà thân thể của ta mất sự quân bình[156]. “Cho nên một cọng cỏ nhỏ với một cây cột lớn, một người đàn bà xấu với nàng Tây Thi, với tất cả các cái bậy bạ, dối trá, quái dị đều hợp nhất ở trong Đạo. Cái nhất đó phân chia ra thành vạn vật” bài 4. Vả lại cái gì cũng ở trong Đạo hết. So với một cái cực nhỏ thì đầu chiếc lông mùa thu là cực lớn; so với cái cực lớn thì núi Thái Sơn vẫn là nhỏ. Loài người ăn thịt dê thịt bò cho là ngon, mà loài dê loài bò lại cho lá cây, cỏ mới ngon; loài người cho Mao Tường, Lệ Cơ là đẹp, nhưng loài chim loài cá thấy hai nàng đó thì hoảng sợ mà trốn; vậy là không có “chính vị”, “chính sắc”, nghĩa là không có gì làm tiêu chuẩn bất di bất dịch cho khẩu vị, sắc đẹp cả, không có gì tuyệt đối cả. Hơn nữa, mọi vật đều biến thiên, một việc lúc này cho là khổ, lúc khác lại cho là vui, lúc này cho là phải, lúc khác cho là trái. Nàng Lệ Cơ khi phải xa cha mẹ thì khóc mướt, nhưng về nhà chồng rồi, lại thấy sung sướng mà ân hận rằng trước kia đã khóc. Cho nên chỉ người phàm mới lao khổ vì thị phi, còn thánh nhân thì đạt được cái tinh khiết của cái “nhất” nó bao quát được mọi biến hoá của mọi thời và mọi vật. Cái “nhất” đó là Đạo bài 11. Vì luật biến hoá đó mà sống cũng là chết, chết cũng là sống bài 3, mộng cũng có thể là thực mà thực cũng có thể là mộng. Ai mà biết được Trang Chu mộng thấy mình hoá bướm hay bướm mộng thấy nó hoá Trang Chu bài 15. Trong bài 11, Trường Ngô tử bảo bạn là Cồ Thước tử đời chỉ là giấc mộng lớn; Khổng tử khi giảng đạo lí, là nằm mộng, Cồ Thước tử nhắc lại lời của Khổng tử cũng là nằm mộng, mà Trường Ngô tử khi bảo hai người trên là nằm mộng thì chính mình cũng là nằm mộng nốt nữa. Vậy là cơ hồ như Trang tử chủ trương tuyệt đối hoài nghi, tuyệt đối vô vi đã không có gì là phải, là trái thì cũng chẳng cần phải làm gì cả? Đọc lại câu cuối bài 5, chúng ta thấy không hoàn toàn như vậy “Cho nên thánh nhân dung hoà, coi thị phi là một, mà theo luật tự nhiên. Như vậy gọi là lưỡng hành’”. Nghĩa là phải hay trái, tuỳ theo hoàn cảnh, mà mình phải thích nghi với hoàn cảnh. Bài 4 ông còn nói rõ hơn “…Thánh nhân bỏ thành kiến đi để theo lẽ trung dung”. Nhưng vậy là Trang cũng nhận có một thái độ “phải”, thái độ đó là vượt lên trên quan niệm “thị phi” của người đời, tuỳ hoàn cảnh mà tìm cái “thị” trong cái “phi”, cái “phi” trong cái “thị”. Có thể gọi thái độ đó là “siêu thị phi”, là dung hoà, gần gần như thuyết “trung dung” của Khổng tử. Đó là một điểm đặc biệt trong triết lí Trung Hoa hai triết hệ lớn của họ, Khổng và Lão đều có tinh thần dung hoà; nhận rằng mọi thuyết, mọi vật có thể cùng hoạt động tịnh hành mà không trở ngại nhau “Xưa mười mặt trời cùng xuất hiện, chiếu sáng vạn vật. Sự chiếu sáng của đạo đức không hơn sự chiếu sáng của mặt trời ư? bài 9. “Đồng qui nhi thù đồ” là vậy. Khổng có thể dung hoà với Lão, mà Phật sau này có thể dung hoà cả với Khổng và Lão. Tuỳ hoàn cảnh, có thể “xuất” như Khổng hay “xử” như Lão, đó là thái độ của tất cả các nhà Nho như Đào Tiềm, Tô Đông Pha tới Chu Văn An, Nguyễn Khuyến… Mà thái độ của dân chúng Trung Hoa cũng như Việt Nam là chấp nhận cả tam giáo Khổng, Lão, Phật; tâm hồn chúng ta không ai là thuần tuý Khổng hay Lão hay Phật, ai cũng chịu ảnh hưởng của ba tôn giáo đó, chỉ khác là do bản tính, người thiên về đạo này hơn đạo khác; nhưng cả những người thiên về một đạo nào đó – chẳng hạn Khổng giáo – thì một tuổi nào đó hoặc gặp một hoàn cảnh nào đó, có thể thiên về một đạo khác hơn – chẳng hạn Phật giáo. Từ vũ trụ quan kể trên, Trang tử rút ra cho chúng ta bài học này đừng nên tranh biện. Chúng ta nhớ Trang tử sống cùng một thời với Mạnh tử. Thời đó là thời Chiến quốc, thời đại loạn, nhưng cũng là thời tư tưởng Trung Quốc phát triển rất mạnh, thời “bách gia chư tử”. Ngôn luận được hoàn toàn tự do, ai cũng muốn đưa ra một thuyết để cứu nguy cho thiên hạ, mà các vua chúa cũng muốn tìm hiểu tất cả các thuyết để xem có thể áp dụng được không, cho nên trọng đãi các triết gia, mời họ làm cố vấn, coi họ như thầy nữa, như Tề Tuyên vương, Lương Huệ vương, Đằng Văn công đối với Mạnh tử. Chính Trang tử cũng được Sở Uy vương mời làm tướng quốc mà ông từ chối. Trong số các triết gia đó, có độ mươi nhà rất nổi danh như Mạnh tử, Tuân tử, Huệ tử, Công Tôn Long, Trâu Diễn… không kể Trang tử, nhưng ảnh hưởng lớn nhất, theo Mạnh tử, là học thuyết của Dương và Mặc “Học thuyết của Dương Chu và Mặc Địch lan tràn thiên hạ khi bàn bạc, người nào không theo Dương thì theo Mặc”. Những học phái đó đả kích nhau, khuynh loát nhau, cho nên càng nhiều càng loạn, từ vua chúa tới dân chúng đều hoang mang, không biết theo ai. Mạnh tử hăng hái nhất, tự cho mình cái sứ mạng bảo tồn, phát huy đạo của Khổng tử, muốn đánh đổ các thuyết khác, đặc biệt là thuyết “vị ngã”, “vô quân” của Dương Chu[157] và thuyết “kiêm ái”, “vô phụ” của Mặc Địch[158]. Trang tử cho rằng họ lầm lẫn hết, nên ông không đả riêng một nhà nào có lẽ một phần vì vậy mà Mạnh tử không nhắc gì tới ông cả, chỉ cảnh cáo họ rằng biện luận chẳng những vô ích mà còn có hại. Vì biện luận chỉ thấy được một khía cạnh thôi, Đạo không có giới hạn mà ngôn ngữ thì không chắc chắn. Đạo thì không phân biệt cái này cái kia, do ngôn ngữ mới có sự phân biệt. Nhưng sau mỗi cái phân biệt, có một cái gì không phân biệt được, sau mỗi cái biện luận, có một cái gì không biện luận được bài 8. Người ta tranh biện chỉ mong thắng được người khác, nhưng không hiểu rằng không thể thắng ai bằng cách đó được. Hai bên đều đưa thiên kiến của mình ra mà không chịu nghe lí luận của người kia, y như một cuộc đàm thoại giữa kẻ điếc. Mà nếu một người nào làm cho người kia phải im tiếng thì cũng không nhất định là người đó phải, người kia trái; có phần chắc là người nào cũng có chỗ phải, chỗ trái. Nhờ một người thứ ba làm trọng tài thì lại càng vô ích nữa. Nếu người đó cùng ý kiến với người thứ nhất thì làm sao phê phán được người thứ nhì; cùng ý kiến với người thứ nhì thì làm sao phê phán được người thứ nhất; nếu khác ý kiến với cả hai thì càng không thể phê phán được ai phải, ai trái; mà nếu cùng ý kiến với cả hai người thì làm sao còn gọi là trọng tài được nữa? bài 12. Hơn nữa, càng tranh biện, càng làm cho chân lí mờ tối đi, vì thành kiến của mỗi bên, “Đạo bị thành kiến nhỏ nhen che lấp, lời nói bị sự hoa mĩ, phù phiếm che lấp. Do đó mà phái Nho, phái Mặc tranh biện với nhau. Cái gì phái này cho là phải thì phái kia cho là trái; cái gì phái này cho là trái thì phái kia cho là phải. “Đừng chống đối nữa, đó là cái “chốt” của Đạo. Cái chốt đó ở trung tâm cho nên ứng với các biến hoá vô cùng” bài 3. Có thái độ không chống đối nhau thì mới hiểu được những cái phải, cái trái ở bên ngoài, cũng như từ cái trái thơm moyeu của một bánh xe đạt được tới vành bánh xe bằng những chiếc tăm tủa ra khắp phía. Và khi phán đoán phải biết tuỳ theo hoàn cảnh mà thay đổi, mới thấy được có điều xưa cho là phải, nay cho là trái, ở xứ này là phải, ở xứ khác là trái, trong cái phải có cái trái, trong cái trái có cái phải. Như vậy là hoà hợp với thiên nghê, cũng gọi là “thiên quân”, tức với cái lí tự nhiên, sự biến hoá tự nhiên của vạn vật. Thái độ vượt lên trên thị phi, thích nghi với hai cái đó, Trang tử gọi là “lưỡng hành”. Tư tưởng bình đẳng tuyệt đối trong chương này của Trang tử trái ngược hẳn với tư tưởng của Mạnh tử mà cũng khác tư tưởng của Hứa Hành, một triết gia đương thời. Mạnh tử bảo “Bản chất của mọi vật là không đều nhau” Phù vật chi bất tề, vật chi tinh dã. Người thì có hạng “quân tử” – tức hạng có tài đức – lo việc trị dân, và hạng “tiểu nhân” – tức hạng bình dân – lo cấp dưỡng cho hạng trên. Vật thì có vật đáng giá gấp mười, gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn vật khác. Hứa Hành cho rằng vua không quí gì hơn dân, cũng bình đẳng với dân, cũng phải cày cấy lấy mà ăn, tự dệt chiếu, tự bện dép lấy mà dùng. Hai nhà đó đứng về phương diện xã hội, chính trị, còn Trang đứng về phương diện bản thể luận. Mạnh tử đả đảo kịch liệt thuyết của Hứa Hành coi chương Đằng Văn Công – thượng – trong Mạnh tử mà tuyệt nhiên không nhắc gì tới thuyết tề vật của Trang tử, có phần quá khích hơn Hứa Hành nữa. Điều đó làm cho tôi hơi ngạc nhiên. Mạnh tử không biết thuyết của Trang tử chăng? Hay mà biết mà cho rằng nó vu khoát, không thuộc về chính trị luận mà thuộc về vũ trụ luận, chẳng làm hại ai, nên chẳng cần phải đả? Chú thích[edit] [101] Nghĩa là ông Tử Kì ở thành ngoài phía nam cũng như ngoại ô phía nam. Trong bộ Trang Tử này còn có những tên Nam Bá Tử Kì, Đông Quách Tử Kì. Toàn là những nhân vật tưởng tượng. Chúng ta nên để ý Trong Liệt Tử cũng có một nhân vật là Nam Quách Tử. [102] Là một môn sinh của Tử Kì. [103] Có sách dịch là mười trượng. Thời đó mỗi thước bằng khoảng một gang tay. Một trăm gang cũng là mười trượng. [104] Câu này Liou Kia hway dịch khác anh có thấy âm nhạc của đất chỉ giảm lần lần không? [105] Theo Vương Phu Chi thì những thanh âm đó là tiếng nói của loài người. [106] Từ đây trở lên, ý nghĩa thật khó hiểu, tôi châm chước hai bản dịch của Hoàng Cẩm Hoành, và của [107] Hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, lỗ đại tiện và lỗ tiểu tiện. [108] Thường gọi là ngũ tạng tâm, can, tì, phế, thận. Nhưng thận được coi là hai bộ phận, nên cũng gọi là lục tạng. [109] Ông vua khởi nghiệp nhà Hạ. Mới đầu làm bề tôi vua Thuấn, nhờ có tài đức, có công trị lụt, nên vua Thuấn truyền ngôi cho. [110] Câu cuối này cũng mỗi nhà hiểu một khác, tôi theo [111] Cả bài này này rất khó hiểu, mỗi bản giảng một khác. Tôi châm chước “Phi ý niệm” đây phải là Đạo? [112] Thuyết “ngựa trắng không phải ngựa” của nhà nguỵ biện Công Tôn Long. Ông ta bảo ngựa là tên gọi hình, trắng là tên gọi sắc, sắc không phải là hình cho nên ngựa trắng không phải là ngựa. [113] Trang tử theo nhất nguyên luận vạn vật đều do Đạo mà ra, như vậy thì đều có chung cái “lí” của con ngựa. [114] Nguyên văn bất nhiên. Có bản dịch là “không phải”. [115] Trang tử muốn bảo ta phải thích ứng với sự thực nó phức tạp và thay đổi. Ví dụ sống cũng là chết, chết cũng là sống. [116] Nguyên văn đắc = được. Có sách dịch là tự đắc; có sách dịch là hiểu đạo lí. Tôi theo [117] Trang tử muốn nói cứ theo bản năng, trực giác mà làm thì gần đúng Đạo, đừng lí luận. [118] Nguyên văn chỉ có tam, tứ ba, bốn, chứ không nói rõ ba, bốn cái gì. Các bản dịch thường thêm “trái lật chataigne” hoặc “thăng” một đơn vị đo lường cho dễ hiểu. [119] Lưỡng hành [chữ Hán là 兩行 – Goldfish] giảng là hai mối đều dùng được, miễn là biết thích nghi. giảng là hai thái độ, tuỳ theo hoàn cảnh. [120] Có sách dịch là mới đầu có vật nhưng không phân biệt vật này vật khác. [121] Một người giỏi đàn cầm thời đó. [122] Một nhạc sĩ thời cổ. [123] Thực ra thuyết này của Công Tôn Long, phân biệt cứng và trắng một phiến đá hoặc cứng hoặc trắng, không thể vừa cứng vừa trắng Coi Đại cương triết học Trung Quốc. Công Tôn Long thuộc phái nguỵ biện. [124] Cả đoạn này từ “Như trường hợp Chiêu Văn chơi đàn cầm”, dịch khác mà rất lúng túng; và dịch giống nhau, tôi theo họ nhưng thú thật hiểu lờ mờ lắm. [125] Theo câu này Trang tử muốn khuyên ta đừng đòi làm gương mẫu bắt người khác theo, cứ tìm hiểu họ để cải thiện họ thôi. [126] Theo Trang tử muốn bảo phán đoán nào cũng thuộc về ngôn ngữ [vậy cùng loại với nhau] mà ngôn ngữ thì không diễn nổi cái thực sự là thực le réel vraiment réel, trái với cái thực mà là giả. [127] Tức có cái gì tạo ra vũ trụ. [128] Đầu thu, các loài vật mọc những chiếc lông con, đầu rất nhỏ. [129] Một trong năm núi lớn ở miền Đông Trung Hoa. [130] Vì nếu nói về nó, thì phải dùng ngôn ngữ, như vậy thì có thêm một cái nữa, mà vũ trụ không còn là “một” nữa. [131] Vì nếu vũ trụ hợp nhất, đã là “một” thì nó đã ở trong khu vực ngôn ngữ rồi vì tiếng “một” thuộc về ngôn ngữ. [132] Vì cứ thêm một, thêm một hoài tới vô cùng, suốt đời cũng không xong. [133] Vì nói về nó thì phải dùng ngôn ngữ, như vậy là có thêm một cái nữa, mà vũ trụ không còn là “một” nữa. [134] Theo bác Vvn Đẳng là thứ bậc; Sai đẳng hay sái đẳng là không đúng thứ tự, không đúng thứ bậc; phản nghĩa với có thứ tự, có thứ bậc. [Goldfish]. [135] Phân biệt và biện luận; có sách dịch là chia nhỏ và chia nhỏ ra nữa. [136] Dùng lời nói để thắng người thì gọi là cạnh; dùng sức mạnh thì gọi là tranh. [137] Nghĩa là không biến thông. [138] Ba nước nhỏ ở biên giới Trung Hoa thời đó. [139] Ý nói các vật có thể cùng vận hành mà không hại gì cho nhau. Vậy thì nếu vua Nghiêu có đức, sao lại cần phải diệt ba ông vua biên giới kia đi. [140] Hai nhân vật này đều là hiền nhân đời vua Nghiêu. Vương Nghê là học trò của Niết Khuyết. [141] Nguyên văn Tử tri tử chi sở bất tri da? Có sách dịch là Anh có biết tại sao anh không biết không? [142] Đều là những mĩ nhân thời cổ. [143] Hai nhân vật này có lẽ chỉ do Trang tử tưởng tượng. [144] Nguyên văn chỉ viết “phu tử” nghĩa là thầy. Vì đoạn dưới có chữ Khâu, tên của Khổng tử, nên các sách đều dịch là Khổng tử. [145] Có sách dịch là “không câu nệ hình tích của đạo”.. [146] Một trong ngũ đế thời cổ. Ông này thường được các triết gia thời đó coi là bậc đại trí. [147] Mình dịch là chim vọ. dịch là con cút. [148] Tức cái Đạo. [149] Có sách dịch là mỗi người trong chúng ta đều có chỗ phải, chỗ trái. [150] Nghê, nghĩa là chỗ chia rẽ đầu mối của một sự; đây phải hiểu là chỗ phân biệt phải và trái, tức là tiêu chuẩn để định phải trái. [151] Nghĩa là chấp nhận cái gì mình cho là không phải, nói cách khác là nhận rằng người khác tuy không đồng ý với mình nhưng cũng có li. [152] Câu này như ở đâu lạc vào đây. Phải chăng Trang tử muốn đưa ra một thí dụ tỏ rằng có những sự kiện tựa như phải mà không phải. Nguyên văn hoá thanh chi tương đãi, nhược kì bất tương đãi. và đều không dịch. [153] Nguyên văn là “võng lưỡng”, tức cái bóng mờ mờ ở chung quang cái bóng thực. Cũng gọi là “bán ảnh” pénombre. [Bản của Nguyễn Duy Cần chép là 罔兩 Vọng lượng cái bóng lu – Goldfish] [154] Những vẩy ở dưới bụng để cho rắn bò được. [155] Nghĩa là hình tượng của vật biến đổi. giảng là hai vật hoà hợp làm một. [156] Thuyết này ảnh hưởng tới y lí Trung Hoa hay y lí đã có trước nó, chúng ta chưa biết được. Nhưng hiển nhiên Trung y ta gọi là Đông y cho rằng một cơ quan, chẳng hạn như gan đau thì ảnh hưởng tới tim, tì vị… Và muốn bổ gan thì phải bổ thận, phổi… Cho nên Trung y trị toàn thể con người chứ không chỉ trị riêng từng bộ phận một. [157] Tức Dương Tử -440 – -380 BT. [158] Tức Mặc Tử -480 – -397 Trang Tử Lê Thời Tân dẫn Trang Tử từ Văn Nhất Đa Tề Vật Luận 齊 物 論 của Trang Tử có đoạn 以指喻指之非指 [1], 不若以非指喻指之非指也 [2]; 以馬喻馬之非馬 [3], 不若以非馬喻馬之非馬也 [4]。 天下, 一指也 [5];萬物,一馬也 [6]。 Phiên âm Hán Việt Dĩ “chỉ“ dụ chỉ chi phi chỉ, bất nhược dĩ “phi chỉ“ dụ chỉ chi phi chỉ dã; Dĩ “mã“ dụ mã chi phi mã, bất nhược dĩ “phi mã“ dụ mã chi phi mã dã. Thiên hạ nhất chỉ dã, vạn vật nhất mã dã. Đoạn nhỏ hai câu trên là một nút thắt khó gỡ bậc nhất trong tác phẩm triết học tiêu biểu này của Trang Tử. Nhằm tránh khỏi bị khỏi ngộp thở giữa “rừng chú giải” nhưng lại vẫn có thể tiến lên nâng cao và khái quát hóa được vấn đề, chúng tôi chọn cách trình bày như sau Trước hết chọn và giới dẫn tập trung một cách hiểu mà chúng tôi cho là phù hợp tinh thần cơ bản của Trang Tử – cách hiểu của Văn Nhất Đa.[1] Việc này tránh được lối trình bày dàn hàng ngang những cách chú giải dày đặc trích dẫn, nặng về khảo cứu chữ nghĩa. Sau khi giới dẫn Văn Nhất Đa, chúng tôi tiến hành mở rộng và nâng cao vấn đề dưới góc nhìn nhận thức luận ngôn ngữ học giải cấu trúc. Cắt nghĩa của Văn Nhất Đa 以“指”喻指之非指,次指謂指名之指抽象名詞,末指謂手指之指實物名稱,“指”則兼此二義之名。不若以“非指”喻指之非指也。以“馬”喻馬之非馬,次馬字謂籌馬之馬,今字作碼抽象名詞,末馬字謂牛馬之馬實物名,“馬”則兼此二義之名,不若以“非馬”喻馬之非馬也。天下,一指也;萬物,一馬也。一犹皆也。此指,馬二字俱抽象名詞。[ Tạm dịch “Dĩ “chỉ” dụ chỉ chi phi chỉ chữ “chỉ” thứ hai là nói chỉ trong “sự chỉ tên” danh từ trừu tượng, chữ “chỉ” thứ ba là chữ chỉ trong “thủ chỉ” ngón tay – danh từ chỉ vật thực, còn từ “chỉ” thứ nhất tức chữ “chỉ” in đứng, Văn Nhất Đa đặt trong dấu ngoặc kép – LTT thì gồm cả hai nghĩa đó; Bất nhược dĩ “phi chỉ” dụ chỉ chi phi chỉ dã; Dĩ “mã“ dụ mã chi phi mã, chữ mã thứ hai là nói chữ “mã” trong “trù mã” thẻ để tính toán, ghi số hiệu, ngày nay viết 碼 danh từ trừu tượng, chữ “mã” sau cùng lại là chỉ ngựa trong từ “trâu ngựa” danh từ chỉ vật thực, còn chữ mã đầu tức chữ “mã” in đứng, nhà chú giải đặt trong dấu ngoặc kép – LTT thì kiêm cả hai nghĩa trên. Bất nhược dĩ “phi mã” dụ mã chi phi mã. Thiên Hạ, nhất chỉ dã; Vạn Vật nhất mã dã. Nhất do giai dã.” Trong đoạn Hán văn dẫn trên, cách ngắt câu và cách đánh dấu ngoặc kép đối với câu văn Trang Tử được giữ đúng theo Văn Nhất Đa riêng việc in nghiêng, in đứng và in đậm trong phiên âm Hán Việt như trên là của chúng tôi. Chúng tôi muốn dùng các cách in nghiêng, in đứng, in đậm và in hoa để biểu hiện cách đọc của mình đối với những đoạn văn trong Tề Vật Luận đã được dẫn trong bài viết này. Tôn trọng cách đọc của Văn Nhất Đa, chúng tôi đồng thời cũng chấp nhận sự xác định từ loại của ông đối với các từ trong hai câu này. Như đầu đề công trình “Trang Tử Chương Cú” cho thấy, cách làm của Văn Nhất Đa là – trên cơ sở vận dụng lí luận đồng âm dị tự-dị nghĩa, từ loại học, lần lượt giải thích các từ rồi từng câu văn bản Tề Vật Luận. Trong phân câu [1] ông tập trung cắt nghĩa ba chữ “chỉ”. Đến phân câu [2] tiếp theo, Văn Nhất Đa chỉ chép nó ra mà không giải thích, nhưng ông đã đem hai chữ phi chỉ đặt vào trong dấu ngoặc kép “phi chỉ“. Sau khi giải thích các chữ mã trong phân câu [3] ông chép phân câu [4] ra và không cũng không có giải thích. Văn Nhất Đa cũng không cắt nghĩa trực tiếp hai phân câu [5] và [6], chỉ tập trung giải thích chữ nhất dùng chung trong cả hai phân câu “nhất do giai dã-nhất như “đều là” vậy” Sau này Quách Mạt Nhược rõ ràng cũng có ý thức về vấn đề từ đồng âm khi chú câu văn này của Trang Tử “指是宗旨, 是觀念; 馬是法碼, 是符號” – xem 郭沫若《十批判書 – 莊子的批判》. Có thể nói, dựa hẳn vào ngôn ngữ học, diễn giải của Văn Nhất Đa thực sự giải phóng độc giả Tề Vật Luận ra khỏi vòng rối rắm của huấn hỗ học truyền thống. Đương nhiên Văn Nhất Đa cũng chỉ dừng lại ở ngôn ngữ học truyền thống. Ông chú ý nhiều tới vấn đề đồng âm, dị nghĩa, sở chỉ và năng chỉ của từ khi chú giải đoạn văn Trang Tử. Trong công trình “Trang Tử Nghĩa Sơ” phụ lục của Trang Tử Chương Cú Văn Nhất Đa nói câu Dĩ “chỉ” dụ chỉ chi phi chỉ, bất nhược dĩ “phi chỉ” dụ chỉ chi phi chỉ dã là “nói lấy chữ “chỉ” đồng danh nhưng khác nhau về cái vật thực mà nó chỉ ra, để giảng giải vấn đề danh xưng không phải là bản thân sự vật, làm như vậy không bằng lấy những chữ dị danh không đồng âm dị thực chỉ những sự vật khác nhau giải thích danh từ, tên gọi không phải là vật thực. Cái đồng danh dị thực khiến người ta hay lẫn lộn. Còn những chữ dị danh dị thực thì không như vậy” Nguyên văn 谓以同名异实之“指”字说明名称之非实物,不如别以异名异实之字说明名称之非实物也。同名异实者使人迷误,异名异实则不然。 [2 Giải thích tiếp theo này của ông vô hình trung dường như đã làm hẹp lại tầm rộng của bản thân vấn đề mà ông ít nhiều đã hé mở trong chú giải trước đó. Đoạn văn trên của Tề Vật Luận đương nhiên ít nhiều cũng có phản ánh câu chuyện đặc điểm của Hán ngữ – những đặc điểm sẽ được ý thức rõ ràng hơn trong tư biện triết học. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ Trang Tử không phải chỉ nhắm vào mỗi chuyện đồng âm, đồng tự hay chuyện nên biểu đạt tư tưởng bằng một ngôn ngữ khúc triết rõ ràng. Trang Tử cũng không phải chỉ là mượn Tề Vật Luận để bày tỏ thái độ chán ghét các phái “tranh minh” với nhau một cách ồn ào, tranh luận chỉ vì thành kiến hay đơn giản chỉ là vì hơn thua. Đoạn văn trên trong Tề Vật Luận bộc lộ một nhãn quan triết học rộng rãi hơn nhiều. Cách làm của Văn Nhất Đa đơn giản về phương pháp nhưng hàm chứa những gợi ý to lớn về nhận thức luận. Chính vì vậy, chúng tôi thấy cần thiết phải thực hiện một sự mở rộng và nâng cao diễn giải của học giả này. Diễn giải và phát huy Văn Nhất Đa Một điểm rất đáng chú ý trong diễn giải câu văn Tề Vật Luận ở đây là cách đánh dấu nháy “…” lên những chữ-từ nhất định. Như đã nói, đến phân câu [2] Văn Nhất Đa không giải thích, nhưng đem hai chữ phi chỉ đặt vào trong dấu ngoặc kép “phi chỉ“. Chúng tôi cho rằng chỉ như vậy thì ông cũng đã có một sự chú giải đối với câu này. Có thể diễn rộng ý ông rất thành “dùng cái mệnh danh của ngôn ngữ dĩ “chỉ“ để nói nguyên văn “dụ” 喻 – dùng lời để nói rõ, bày tỏ bằng lời, ví dụ câu trong Lã Thị Xuân Thu – phần Ly Vị “ngôn dã, dĩ dụ ý dã. Ngôn ý tương ly, hung dã”. Trong cổ đại Hán ngữ, chữ “dụ” có thể viết bộ “ngôn” 言 mà cũng có thể viết bộ “khẩu” 口 để biểu ý một khái niệm, một hoạt động tư tưởng chữ “chỉ” thứ hai không phải là một sự vật thực chữ “chỉ” thứ ba trong từ “thủ chỉ” – ngón tay thì nhược bằng không dùng “không phải là ngôn ngữ” – “phi chỉ” để thuyết minh, nói rõ ngôn ngữ không phải là chính bản thân sự vật”. Ở đây chúng tôi hiểu “dĩ “phi chỉ” dụ…” ý là “dùng cái không phải là ngôn ngữ để nói rõ…”. Xin đặc biệt chú ý dấu ngoặc kép đánh trên chữ chỉ đầu tiên trong câu văn Trang Tử, Văn Nhất Đa rõ ràng có ý phân biệt các chữ chỉ trong đoạn văn này. Bằng cách đó ông bày tỏ một cách hàm súc cách đọc của mình đối với tư tưởng Trang Tử. Chúng tôi tiến thêm một bước cho rằng ngôn ngữ về một phương diện nhận thức luận nào đó mà nói chính là một cách đánh dấu ngoặc kép lên đối tượng hiện thực khách quan. Và sở dĩ nói bất nhược dĩ “phi mã“ dụ mã chi phi mã dã ấy là vì rốt cuộc “vạn vật nhất mã dã” – thế giới khách quan được diễn đạt trong ngôn ngữ gọi là vạn vật này thực tế đều là kí hiệu “mã“”. Như tuồng để nhấn mạnh tính chỉnh thể hệ thống của một ngôn ngữ “mã“ đối với việc tạo nên một thế giới “vạn vật” – cái thế giới sống trong đó những con người chung dùng “mã kí hiệu” đó, Văn Nhất Đa đã giải thích thêm cho chữ “nhất” – “Nhất do giai dã” “nhất” là “đều là”. Rõ ràng trong câu “dĩ “phi chỉ“…” và “dĩ “phi mã” ….”, phi mã và phi chỉ đều được đặt trong dấu ngoặc kép, chúng tôi xem hai chữ phi chỉ cũng như hai chữ phi mã là liền thành một khối, tức đều là bổ ngữ đối tượng trực tiếp của “dĩ”; Theo tinh thần đó phi mã, phi chỉ trong câu văn Trang Tử đều tương đương với một nhóm danh từ. Chữ chỉ trong khối “phi chỉ” ở đây, theo chúng tôi nên được hiểu là để đang đề cập đến vấn đề ngôn ngữ nó vừa là một danh từ chỉ vật thực ngón tay, vừa là cái sở chỉ signifie, signified hoặc significatum mà cũng là trỏ cái năng chỉ signifiant hoặc signiifer, signifians; Chữ chỉ ở đây là chỉ xưng, chỉ xuất, chỉ thị, lại cũng có thể thông với chữ chỉ trong từ “chỉ dụ” 旨喻/指喻 ; Tương tự chữ mã trong “phi mã” theo chúng tôi cũng nên được lí giải là vừa chỉ một loài động vật bạch mã, mã lực,… mà cũng là “mã hiệu” mật mã, lập mã, mật mã, mã vạch – tóm lại đều đề cập đến chuyện sử dụng ngôn ngữ. Nhân tiện cũng lưu ý rằng, thuật ngữ ngôn ngữ học năng chỉ, sở chỉ vừa dẫn trên, trong tiếng Anh hoặc tiếng Pháp đều có gốc từ sign. Mà sign là chỉ kí hiệu, kí hiệu ngôn ngữ, ngoài ra cũng chỉ động tác làm hiệu, động tác “nói” bằng tay, ví dụ nói sign language – ngôn ngữ cử chỉ [3]. Đến đây tưởng đã có thể diễn rộng Văn Nhất Đa trong trường hợp đọc hiểu đoạn văn Trang Tử “Dùng ngôn ngữ hệ thống kí hiệu gồm hai mặt – chỉnh thể ngữ âm/ngữ nghĩa hoặc nói cụ thể như Trang Tử ở đây, dùng một danh từ kí hiệu bao gồm cái sở chỉ chỉ sự vật và cái năng chỉ hình thành nên ngữ nghĩa để giải thích, cắt nghĩa một khái niệm, một danh xưng không phải chính là bản thân sự vật chú ý quan hệ giữa ngôn ngữ và thế giới khách quan; quan hệ giữa từ và vật – làm một việc như thế chẳng thà dùng không phải là ngôn ngữ hoặc là nói “không dùng ngôn ngữ” – tuy nhiên có thể không dùng ngôn ngữ mà nhận thức được tồn tại hay không – đó là vấn đề tiếp theo trong nhận thức luận Trang Tử, và cũng là một vấn đề lớn của triết học hiện đại khiến người ta hiểu ra một tên gọi, một danh từ không phải là bản thân sự vật.” [4 tr. 35-40] Liên hệ vào trong văn học, chẳng hạn ta có thể nhắc đến Roland Barther khi ông bàn đến vấn đề tự sự lịch sử. Ông nói “Có điều, lời nói vĩnh viễn không thể có được sự vật thực vật quy chiếu ở bên ngoài bản thân nó”. Phân tích ý này của Roland Barther, một học giả nói “Nói cách khác, lời nói về lịch sử trong quá trình hình thành đã làm loạn đi sự chừng mực, đem cái sở chỉ signified xem thành vật qui chiếu refrent. Sự trần thuật lịch sử không thể đạt đến “thế giới chân thực”, vì thế nó chỉ đẻ ra được một thứ “hiệu quả của tính chân thực”. Nó – ít nhất từ thế kỉ XIX lại nay, đem trần thuật đặt định thành cái sở chỉ của thế giới chân thực và thế là đã tạo nên cái hiệu quả đã nói trên… Tự sự lịch sử của “chủ nghĩa hiện thực” kết thúc vòng tuần hoàn mâu thuẫn cấu trúc tự sự thoạt đầu là ninh ở trong cái nồi hư cấu thần thoại và sử thi thời kì đầu sau đó biến thành một sự chứng minh kiêm kí hiệu của bản thân hiện thực” [5 Văn Nhất Đa quay lại với Trang Tử Chúng ta nên biết rằng một danh xưng chẳng qua chỉ là một kí hiệu gọi thành lời, bản thân nó tồn tại trong một ngôn ngữ cụ thể – nó có được ý nghĩa ngữ nghĩa trong một ngôn ngữ nhất định; Trong lúc đó vật thực thì tồn tại trong thế giới khách quan cũng với những ý nghĩa của chính nó; bản thân danh xưng, danh từ không phải là bản thân sự vật; Cũng vậy, ngữ nghĩa của một từ không đồng đẳng với ý nghĩa của sự vật mà từ đó phản ánh. Ngữ nghĩa là tồn tại trong một ngôn ngữ cụ thể, còn ý nghĩa của bản thân sự vật là tồn tại trong hiện thực khách quan, không vì chúng ta dùng thứ tiếng nào gọi nó lên thành từ mà bị thay đổi. Đương nhiên ở đây Tề Vật Luận, có thể Trang Tử còn có ý nói đến hiện tượng “đồng danh dị thực” của tiếng Hán đương thời. Ngôn ngữ một khi được hiểu là công cụ của tư duy, hệ thống kí hiệu, là sự chỉ, là hành động lập mã thì việc dùng chính bản thân nó để phân biệt danh xưng, khái niệm với vật thực – việc đó suy cho cùng đã trở nên thừa mà cũng không giúp ích gì cho một nhận thức luận triệt để. Vật thực tồn tại trong thế giới khách quan, tính cách hiện thực của nó không phụ thuộc vào ý thức ngôn ngữ. Khi con người tư biện trong lòng ngôn ngữ không thể nào khác được về vấn đề từ không phải là bản thân vật, vật không phải là bản thân từ thì, con người dường như bắt đầu cảm thấy một nỗi bế tắc tuyệt vọng, cảm thấy một tình trạng dường như là đang “chạy quanh chạy quẩn” tựa chuyện kiến leo cành cụt cây đa cây đào vậy. Trang Tử nhắc nhở mọi người nên biết là “thiên hạ” “vạn vật” thảy đều là chuyện danh xưng, là vấn đề mệnh danh, tên gọi và khái niệm – tức là vấn đề ngôn ngữ, hoặc nói theo cách nói của Trang Tử – đó chỉ là “nhất chỉ” “nhất mã” mà thôi. “Vạn Vật Nhất Mã dã”. Văn Nhất Đa chú giải “nhất” ở đây là “giai” – đều là. Ông thậm chí còn mở ngoặc nói thêm hai chữ chỉ và mã ở đây đều là danh từ trừu tượng. Theo Trang Tử, phải vượt lên trên ngôn ngữ đạt tới nhận thức trạng thái tồn tại bản-chân-bản-dạng-chưa-từng-bị-phân-cắt-bởi-ý-thức logic – “dĩ vi hữu vật hĩ, nhi vị thuỷ hữu phong dã” tạm dịch thừa nhận tồn tại vạn vật bởi ngôn ngữ, mà biết bản thân tồn tại vật chưa từng bị cầm cố trong ngôn ngữ. Trang Tử yêu cầu siêu việt ngôn ngữ để tiếp cận với Đạo Đạo vừa không thể mô tả bằng ngôn ngữ lại vừa không thể lí giải được bằng ngôn ngữ – “Dĩ vi hữu vật hĩ, nhi mạt sử hữu phong dã”, sách Trang Tử, chương XXV, tiết 11. Đầu tiên, từ chỗ biết được “chỉ chi phi chỉ” “mã chi phi mã” thừa nhận giới hạn nhận thức thế giới quẩn quanh mù mịt trong lòng ngôn ngữ đi đến chỗ nhận thức trở lại được chính bản thân nhận thức – tức là trả lời câu hỏi “chúng ta tại sao lại suy nghĩ/ nói như vậy?”. Ví dụ, trên thực tế chúng ta “chúng ta” ở đây trước hết chỉ – chẳng hạn, những người cùng chung một thứ ngôn ngữ đơn tiết không biến hình thường vẫn có thói quen dùng một danh từ giải thích một khái niệm. Nếu bị hỏi dồn danh từ đó nghĩa là gì, chúng ta thường không do dự chỉ ngay vào vật thực – một cách giản tiện lấy sự vật được biểu đạt bằng cái sở chỉ của danh từ đó đi giải thích bản thân danh từ. Ví dụ bị hỏi “thực vật” là gì, chúng ta đem “cỏ cây” ra trả lời; nếu bị hỏi tiếp “cây là gì”, chúng ta chỉ ngay vào một cây bất kì trong vườn. Thế nhưng cho đến nay, ngôn ngữ học dường như không phải lúc nào cũng chú ý phân biệt một cách rạch ròi nghĩa và ngữ nghĩa. [6 tr. 48-49] Ngữ nghĩa hoặc nói cụ thể nghĩa của từ của chữ, mối quan hệ biểu chỉ – signification và nghĩa, ý nghĩa – sense là hai chuyện khác nhau. Ngữ nghĩa học phải xác định rõ đối tượng của mình. Ý nghĩa, nghĩa thuộc về vật thực. Nghĩa của ngựa, cỏ, ngón tay chẳng hạn được xác định do các nhà sinh vật học, nghĩa của chúng là nhận thức chung của tất cả các ngôn ngữ. Còn việc người Hán viết/gọi 草 [cǎo] phiên âm Hán Việt thảo, người Anh gọi grass – theo Phan Ngọc đó là chuyện hình thức. Còn như ngữ nghĩa của từ tiếng Hán草thì lại được xác định thông qua một loạt thao tác chọn lựa và kết hợp diễn ra trong lòng tiếng Hán. Tức là thông qua đối lập với 草木 thảo mộc cây cỏ, 稻 草 đạo thảo rơm,… mà có được sự xác lập về nghĩa cho từ/chữ 草. Nói một cách khái quát, ngữ nghĩa của một từ ngôn ngữ cụ thể là đặt nó trong trục chọn lựa và kết hợp lịch đại và đương đại mới có thể phân biệt xác lập ra được. 馬 mã với tính cách chỉ vật – nghĩa đó đối với người Anh hay người Hán đều như nhau, nhưng người Hán viết gọi 馬 [mǎ] mà người Anh thì lại định danh thành từ horse. Ngữ nghĩa của từ 馬 hình thành trong sự đối lập với hàng loạt từ khác trong tiếng Hán cũng giống như ngữ nghĩa của từ horse là hình thành trong lòng tiếng Anh vậy. Nhà nghiên cứu tiếng Hán khi muốn định nghĩa nghĩa của từ 馬 đương nhiên sẽ không dắt ra một con ngựa thật trong tự/từ điển việc có thể minh hoạ bằng hình vẽ con ngựa lại là chuyện khác. Nhà nghiên cứu tiếng Hán sẽ thông qua đối lập 馬 với một loạt từ 馬 刀 [mǎ dāo] mã đao, 馬 脚 [mǎ jiǎo] mã cước vết tích để lại 骏 馬 [jùn mǎ] tuấn mã để xác định ngữ nghĩa một từ cụ thể yếu tố 馬 nhất định. Hiểu như vậy, chúng ta chính là đang tiến gần đến câu chuyện “mã chi phi mã”. Quay về với Trang Tử. Chúng ta cần biết rằng trong tiếng Hán một từ đơn – tức một đơn âm tiết viết ra bằng một chữ Hán – nói chung dường như là một hình tượng tức khắc trực tiếp của một sự vật, hành động khách quan. Chỉ dừng lại trên bản thân từ đơn mà tiến hành thao tác tư duy trừu tượng hoá là một việc khó, muốn giang rộng đôi cánh tư duy tư biện thì phải bay lên tầng cao của lĩnh vực từ phức. Trang Tử chính là đã thể hiện một năng lực tư duy tư biện triết học nhuần nhuyễn trong điều kiện mà vốn từ đơn hãy còn chiếm địa vị chủ đạo trong tiếng Hán. Ngoài ra, thông qua sự chú giải của Văn Nhất Đa đối với Tề Vật Luận, trên một mức độ nào đó, chúng ta còn có được một ý thức so sánh ngữ pháp giữa hai truyền thống ngôn ngữ. Tức là nói, lúc đọc một câu văn tiếng Hán, ngoài việc phải lí giải luật tương hợp ngữ pháp nói chung trong các thứ tiếng châu Âu, điều này thể hiện trên biến hoá hình thức của các từ trong câu, chúng ta còn phải chú ý tới luật tương hợp ngữ nghĩa accord tức cái gọi là ngữ pháp ngữ nghĩa. Theo chúng tôi truyền thống chú giải kinh sách của Trung Hoa trên thực tế chính là bỏ công sức rất nhiều trên phương diện này. Thực khó mà xác quyết một bề rằng Trang Tử có hay không một ý thức tự giác hoàn toàn về ngôn ngữ như vậy, nhưng việc đọc hiểu đoạn trích “phi chỉ-phi mã” từ giác độ ngôn ngữ học cấu trúc luận như trên dường như có thể giúp ta phỏng đoán rằng tác giả Tề Vật Luận có suy tính đến bản chất của ngôn ngữ nói chung và những đặc điểm của tiếng mẹ đẻ nói riêng. Trang tử có lẽ là đã tính toán tới việc những đặc điểm đó sẽ đem đến những điều kiện như thế nào cho sự tư biện triết học đương thời. Hoàn toàn có thể đặt vấn đề Trang Tử đã thực sự đối diện với câu hỏi ngôn ngữ rốt cuộc có thể giúp chúng ta tiến gần tới Đạo được hay không? Ngôn ngữ có giúp chúng ta thống nhất được với vũ trụ bản nguyên hay ngược lại, nó khiến cho con người chia cắt với tự nhiên, con người chia cắt với con người? Cho đến nay đó vẫn là câu hỏi chung cho cả nền triết học hiện đại. Chúng tôi mạo muội cho rằng Dĩ “mã“ dụ mã chi phi mã đằng sau lối biểu đạt này có lẽ ẩn tàng một ý thức độc đáo của nhà triết học cổ đại Trung Hoa về mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và vật thực khách quan. Còn mệnh đề tiếp theo Bất nhược dĩ “phi mã“ dụ mã chi phi mã thì chính là đã tiến thêm một bước ý thức về tình trạng “lực bất tòng tâm” của ngôn ngữ trong tư cách là một công cụ của nhận thức. Cái công cụ của tư duy con người, cái công cụ của đối thoại tranh luận này, rốt cuộc có thể đưa con người huyên thuyên nhập mình vào Đại Đạo được hay không? Đối với vấn đề đó, Trang Tử dường như đã biểu hiện một thái độ cực chẳng đã. Chính điều này – ý thức về ngôn ngữ của Trang Tử mới chính là điểm căn bản trong hoài nghi luận đặc sắc của ông. Hiểu được điều đó chúng ta mối thấy được mức độ sâu sắc, sự triệt để cũng như tính hiện đại của nhận thức luận Trang Tử. Trong quá trình nhận thức thế giới bằng ngôn ngữ, Trang Tử dường như cũng đã thấy được biện chứng pháp của nhận thức luận khách quan. Nói một cách đơn giản, có sự tồn tại của hai thế giới một thế giới của vật thực khách quan ngón tay trên bàn tay – 手 指 thủ chỉ, con ngựa – 馬 mã mà chúng ta nuôi… chính là thuộc về thế giới này, cả hành động giơ ngón tay chỉ vào con ngựa và nói câu liên quan đến con ngựa của chúng ta cũng là ở trong thế giới khách quan này và lại còn một thế giới nữa – thế giới của “指” [zhǐ] , “碼” [mǎ] viết/nói – tức là thế giới của ngôn ngữ. Thế giới của ngôn ngữ muốn và cũng tự cho mình là có thể bao trùm và chứa đựng được tất thảy ngôi nhà của hữu thể – Heidegger, giống như Trang Tử mô tả “thiên hạ nhất chỉ dã, vạn vật nhất mã dã”. Tại đây, chúng ta có thể suy diễn thêm một bước thiên hạ/vạn vật hoặc nói cách khác cái thế giới được nhận thức này – bao gồm tất cả mọi thứ mà con người gọi lên bằng từ ngữ, trừu tượng thành khái niệm – chính là được hình thành và cố định lại trong quá trình ý thức đến, gọi tên lên, nói/viết ra. Chúng tôi cho rằng trong đoạn văn của Trang Tử, “thiên hạ” và “chỉ” chính là nghiêng về chỉ mặt chủ thể con người, còn “vạn vật” và “mã” thì nghiêng về nhấn mạnh mặt đối tượng sự vật, riêng “nhất” thì ngụ ý quan hệ mật thiết thống nhất giữa hai phương diện đó trên. Nhà triết học Trần Đức Thảo những năm 40 của thế kỉ XX, khi thảo luận vấn đề nguồn gốc của ý thức và ngôn ngữ đã từng đặc biệt nhấn mạnh tác dụng của hành vi trỏ con mồi và chỉ vào nhau trong săn bắn tập thể đối với việc sản sinh ý thức và ngôn ngữ của bầy người nguyên thuỷ Trần Đức Thảo, Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức, hoá Thông tin, Đoàn Văn Chúc dịch từ nguyên bản tiếng Pháp. Gần đây, từ một góc độ khác, cũng có người nêu câu hỏi thú vị “Khi mặt trăng không bị người ta chỉ ra, nó nguyên văn dùng cả hai đại từ giống cái và giống đực他/她; Thông thường tiếng Hán dùng 它- nó “giống trung – chỉ vật” có tồn tại hay không?” Nói tóm lại đây chính là một sự mô tả mối quan hệ giữa con người – ngôn ngữ – vạn vật, một mối quan hệ đặt trong bối cảnh vũ trụ, hoặc như cách nói của Lão-Trang, đặt trong sự biểu hiện cụ thể sinh động của Đại Đạo. Ngày nay nhìn lại với vài ba từ như “duy tâm” “duy vật” hay “siêu hình” thực khó mà khẳng định rõ thực chất tư tưởng Trang tử. Tuy vậy gắn liền vấn đề này với ý thức của Trang tử về ngôn ngữ bộc lộ ra ở Tề Vật Luận ta có thể thấy được phần nào bản chất tư tưởng triết học của ông. Bản chất đó gắn liền với quan niệm về một “Đại Đạo” vô thuỷ vô chung, vượt lên trên cái gọi là “in the beginning was the Word”. Trang Tử nói “Phu đại Đạo bất xưng, đại biện bất ngôn, … … Đạo chiếu nhi bất đạo, ngôn biện nhi bất cập” Tạm dịch Đại Đạo là vô ngôn, sự tham biện lớn thì vô ngữ, … … Đạo mà giảng giải ra thì không phải là Đạo, ngôn biện thì bất cập – Tề Vật Luận, đoạn V [7 Kết từ Chúng tôi tin rằng không phải ngẫu nhiên mà Trang Tử khi biểu đạt tư biện triết học của mình về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và hiện thực khách quan, lại cố tình chọn đúng các chữ “chỉ”, “mã”, “thiên địa”, “vạn vật”, “nhất”. Đây hoàn toàn là xuất phát từ một dụng ý triết học sâu sắc chứ không phải là câu chuyện chơi chữ hay đơn giản chỉ là đùa bỡn độc giả hoặc chỉ nhắm vào một cuộc luận chiến cụ thể nào đó, ví dụ cuộc tranh luận “hắc mã bạch mã” với phái Duy Danh đương thời. Đến nay chú giải Trang Tử nói chung, Tề Vật Luận nói riêng đã chất chồng đến độ để tổng kết đã phải riêng một công trình. Bài viết này như đã nói từ đầu chỉ là mạnh dạn chọn lấy một chú giải phù hợp quan điểm cá nhân, tập trung đào sâu một tư tưởng. Có thể xem bài này như là một chú giải đối chú giải, hoặc nói chính xác hơn – xuyên qua một chú giải để tái thức nhận vấn đề trong bối cảnh nhận thức mới – bối cảnh giải cấu trúc luận triết học ngôn ngữ học. Đặt trong bối cảnh đó ta có thể thấy nhận thức Trang Tử về quan hệ ngôn ngữ-hiện thực biểu thị một sức mạnh tư biện xuất sắc như thế nào.[2] Thiên Tân 2002-2012 Hà Nội Tài liệu tham khảo [1] 聞一多全集, 莊子篇 – 莊子章句 – 齊物論, 湖北人民出版社, 1993 Văn Nhất Đa Toàn Tập Phần Tề Vật Luận trong Trang Tử Chương Cú thuộc Trang Tử Thiên, Hồ Bắc Nhân dân Xuất bản Xã, 1993 [2] 聞一多全集, 莊子篇 – 莊子章句 -莊子義疏, 湖北人民出版社, 1993 Văn Nhất Đa Toàn Tập Phần Trang Tử Nghĩa Sớ trong Trang Tử Chương Cú thuộc Trang Tử Thiên Hồ Bắc Nhân dân Xuất bản Xã, 1993 [3] 英汉语言学词汇 An English-Chinese lexicon of linguistics, 商务印书馆, 2000 Hán Anh Ngôn ngữ học Từ vựng, Thương vụ Ấn thư Quán, 2000 [4] Lê Thời Tân, “Đạo gia và ngôn ngữ học-triết học hiện đại vài điểm suy nghĩ nhân phân tích một câu nói của Trang Tử”, Tạp chí Hợp Lưu, số 101, 7&8/2008 [5] 新 叙 事 學, 北 京 大 學 出 版 社 Tân tự sự học, Bắc Kinh Đại học xuất bản xã, 2002 [6] Phan Ngọc, Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả, niên, 2000 [7] Lê Thời Tân, “Logos Ngữ Âm Trung Tâm luận của Phương Tây và Đại Đạo Vô Ngôn của Trung Hoa – Liên hệ Lão Trang và – vài suy nghĩ về triết học ngôn ngữ học giải cấu trúc”, Tạp chí Ngôn Ngữ, số 3 274, 3/2012 Chú thích [1] Văn Nhất Đa 闻 一 多 Wen Yiduo 1899-1946, nhà thơ và là học giả lớn của Trung Quốc. Ông là người có công lớn trong việc nghiên cứu Chu Dịch, Thi Kinh, Trang Tử và Sở Từ. [2] Bài viết này là phần đầu của một tiểu luận trình bày tại một seminar kết thúc học phần trong chương trình nghiên cứu sinh tại Đại học Nam Khai 南開大學Nankai University năm 2002. Tiểu luận được viết lại bằng tiếng Việt và được công bố trên Hợp Lưu số tháng 7&8/2008 nhan đề Đạo gia và ngôn ngữ học triết học hiện đại – Vài điểm suy nghĩ nhân phân tích một câu nói của Trang Tử. Nửa sau của tiểu luận này chính là bài “Logos Ngữ Âm Trung Tâm luận của Phương Tây và Đại Đạo Vô Ngôn của Trung Hoa Liên hệ Lão Trang và – vài suy nghĩ về triết học ngôn ngữ học giải cấu trúc”, Tạp chí Ngôn Ngữ, số 3 274, 3/2012 Trang Tử Nam Hoa Kinh Lược dịch Nội Thiên Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ Chương 1 Tìm Hiểu về Lão, Trang Chương 2 Trang Tử và Nam Hoa Kinh Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp... Cách đây hơn một năm tôi đã có dịp thuyết trình về Lão Tử và Đạo đức kinh. Bài đó đã được đăng trong Cao Đài giáo lý, số Tân niên, Ất Mẹo. Vì thế nên, ngày hôm nay, tôi tiếp tục bàn về Trang Tử với Nam Hoa Kinh. Tôi sẽ không khai thác khía cạnh văn chương của Trang. Tôi cũng không lưu tâm đến bút pháp của Trang, đến tài biện bác của Trang. Bình Trang, tôi thủy chung chỉ muốn làm nổi bật lên những phương thức mà Trang đã dùng để đi lên siêu việt, để giúp mọi người sau này nhìn thấy rõ con đường dưỡng sinh, tu thân, cầu Đạo, đắc Đạo của Trang. Trong bài này tôi lần lượt bàn những vấn đề sau I. LƯỢC SỬ TRANG TỬ THEO TƯ MÃ THIÊN Trang Tử 莊 子 là người xứ Mông 蒙 [1] tên Chu 周. Chu vốn làm chức lại, coi vườn sơn Tất Viên 漆 園 ở Mông, đồng thời với Huệ Vương nước Lương,[2] Tuyên Vương nước Tề[3] Trang Tử đa văn quảng kiến, học thức uyên thâm, nhưng căn cốt vẫn là lời Lão. Cho nên sách ông viết hơn mười vạn chữ, đại để đều là ngụ ngôn. Làm những bài Ngư phủ, Đạo chích, Khư khiếp để chế giễu những người theo Khổng Tử, và làm sáng tỏ học thuật Lão Tử. Những tên Úy Lũy, Hư Cang Trang Tử đều là chuyện bịa không có thực. Nhưng khéo viết văn, xếp lời, chỉ việc, tả tình, để bài bác bọn nhà Nho, nhà Mặc. Dù những người học rộng thời ấy, cũng không sao cãi, để gỡ lấy mình được. Lời Trang Tử mênh mông phóng túng, cốt cho sướng ý mình, cho nên các bậc vương công, đại nhân không thể dùng được. Uy Vương nước Sở 339-328, nghe biết Trang Tử là người hiền, sai sứ mang nhiều lễ vật sang mời, hứa cho làm tướng quốc. Trang Chu cười nói với sứ giả nước Sở Nghìn vàng là lợi lớn, khanh tướng là ngôi tôn. Ông chẳng thấy con trâu đem tế Trời trong lễ Giáo đó sao? Nuôi nấng trong vài năm, cho mặc đồ gấm vóc, để cho vào Thái miếu. Lúc ấy, dù muốn làm con lợn con côi cút cũng không được nữa. Ông đi ngay đi. Đừng làm bẩn tôi. Tôi thà chơi đùa trong rạch bùn cho thích, chứ không để cho kẻ có nước buộc ràng. Chung thân tôi không làm quan, để sống cuộc đời thoải mái như ý thích.» [4] II. KHÁI LƯỢC NAM HOA KINH Trang Tử viết một bộ sách, sau này gọi là Nam Hoa Kinh 南 華 經 hay Nam Hoa Chân Kinh 南 華 真 經. Theo Hán thư nghệ văn chí, thì Nam Hoa Kinh thoạt kỳ thủy có 52 thiên. Sau này Quách Tượng dồn lại còn có 33 thiên. 33 thiên lại chia làm 3 phần theo bản Quách Tượng Nội thiên, Ngoại thiên và Tạp thiên. NỘI THIÊN 內 篇 gồm bảy thiên 1. Tiêu diêu du 逍 遙 游, 2. Tề vật luận 齊 物 論, 3. Dưỡng sinh chủ 養 生 主, 4. Nhân gian thế 人 間 世, 5. Đức sung phù 德 充 符, 6. Đại tông sư 大 宗 師, 7. Ứng đế vương 應 帝 王. NGOẠI THIÊN 外 篇 gồm 15 thiên 8. Biền mẫu 駢 拇, 9. Mã đề 馬 蹄, 10. Khư khiếp 胠 篋, 11. Tại hựu 在 宥, 12. Thiên địa 天 地, 13. Thiên đạo 天 道, 14. Thiên vận 天 運, 15. Khắc ý 刻 意, 16. Thiện tính 繕 性, 17. Thu thủy 秋 水, 18. Chí lạc 至 樂, 19. Đạt sinh 達 生, 20. Sơn mộc 山 木, 21. Điền tử Phương 田 子 方, 22. Trí bắc du 知 北 游. TẠP THIÊN 雜 篇 gồm 11 thiên 23. Canh tang Sở 庚 桑 楚, 24. Từ vô Quỉ 徐 無 鬼, 25. Tắc dương 則 陽, 26. Ngoại vật 外 物, 27. Ngụ ngôn 寓 言, 28. Nhượng vương 讓 王, 29. Đạo chích 盜 跖, 30. Duyệt kiếm 說 劍, 31. Ngư phụ 魚 父, 32. Liệt Ngự Khấu 列 禦 寇, 33. Thiên 天 下. Các nhà bình giải thường cho rằng Nội thiên là của Trang Tử viết có thể trừ ra một vài đoạn như đoạn Tử Tang Hộ trong thiên Đại tông sư. Có người cho rằng Nhân gian thế cũng không do Trang Tử viết. Còn Ngoại thiên và Tạp thiên thì hoặc do môn đệ Trang Tử viết ra, hoặc người sau viết ra mà mượn tên Trang Tử. Lâm Tây Trọng, đời Thanh toát lược Nam Hoa Kinh như sau Trong 33 thiên, nói đi nói lại hơn chữ. Đại ý chẳng qua là Tỏ rõ đạo đức, rẻ rúng nhân nghĩa, coi sống chết là một, coi phải trái in nhau, hư tĩnh điềm đạm, vắng lặng, không làm, thế đấy thôi. Xét ra thì Bảy bài Nội thiên là văn có đầu đề, do chính tay Trang Tử định lấy. Còn Ngoại thiên, Tạp thiên đều lấy chữ trên đầu thiên mà đặt tên… Ấy là những văn không đầu đề. Người đời sau lấy những bài vặt vãnh của Trang sắp đặt lại.» Lâm Tây Trọng bình tiếp đại ý bảy chương Nội thiên như sau Tiêu diêu du cốt nói lòng người quen thành tựu nhỏ nhen, nhưng LỚN 大 mới là quí. Tề vật luận cốt nói lòng người thường quen câu nệ, nhưng HƯ 虛 mới là hay. Dưỡng sinh chủ cốt nói lòng người thường miệt mài đối phó với vật ngoài, nhưng THUẬN 順 mới là phải. Nhân gian thế là phép vào đời. Đức sung phù phép ra đời. Đại tông sư là phép trong có thể là thánh 內 聖. Ứng đế vương là phép ngoài có thể là vua 外 王. Ấy là nghĩa riêng của bảy bài Nội thiên. Thế nhưng lòng người có lớn mới có thể hư, có hư thì mới có thể thuận… Vào được đời rồi mới ra được đời… Trong làm nổi Thánh, thì ngoài mới làm nổi vua… Ấy là những lẽ đi theo nhau của bày bài Nội thiên. Cứ thế thôi là cũng đã hết được ý chính…» Từ xưa tới nay, đã có rất nhiều nhà bình giải Trang, phiên dịch Trang. Mỗi người giải Trang theo một khía cạnh, một đường lối. Người thì giải Trang theo Lão, người thì giải Trang theo Khổng, người thì giải Trang theo Phật. Trong số các nhà bình giải Trang từ xưa đến nay, chúng ta ghi nhận ít nhiều tên quen thuộc như Quách Tượng, Lâm Hi Dật, Lâm Tây Trọng, Chương Bính Lân, Mã Tự Luân, Cao Hanh, Nghiêm Phục, III. CHÂN TƯỚNG TRANG TỬ Muốn hiểu tư tưởng Trang, phải biết chân tướng của Trang là gì. Xưa nay người ta thường cho rằng Trang Tử là một triết gia, thích sống đời sống phóng khoáng. Có người lại nói cho Trang là một nhà biện luận có tài như Công Tôn Long, hay Huệ Tử. Đánh giá Trang như vầy là rất thấp. Vậy Trang Tử là ai? Từ lâu đọc Lão Trang, tôi vẫn đinh ninh rằng các Ngài là - Những nhà Huyền học Mystiques, nói theo từ ngữ Âu Châu, Những bậc tiên thánh đã siêu phàm, thoát tục, nói theo từ ngữ Á Châu. - Những vì Thiên dân Canh Tang Sở, 22-D hay Thiên tử Nhân gian thế, IV, A hay Chân nhân Đại Tông sư, 6-A, hoặc Chí nhân, Thần nhân hay Thánh nhân Tiêu diêu du, 1-C theo lời Trang tử. Trang Tử cũng là một nhà Huyền học, một bậc chí nhân như Lão tử. Chương Thiên hạ trong sách Nam Hoa Kinh bình về Trang Tử như sau Trên thời vui chơi cùng đấng Tạo Hóa, dưới thời bè bạn với những người đã thoát vòng sinh tử, thủy chung…» [5] Như vậy muốn hiểu Trang tử, phải hiểu thế nào là một nhà Huyền học, thế nào là một bậc Chí nhân. Huyền học Mystique hay Chí nhân hay Chân nhân là những danh từ tặng cho những ai có một đời sống siêu nhân, mãnh liệt, y thức như đã tiếp xúc được với luồng huyền lực vô biên của vũ trụ. Nhà Huyền học là người - Có tâm thần rất thông minh, tinh tế, - Nhìn thấy Đạo, thấy Trời nơi tâm khảm mình. - Nhận thức được tấn tuồng biến thiên, ảo hóa của vũ trụ cũng như của lịch sử nhân quần. - Cố tu luyện, cố thanh lọc tâm thần để đi đến chỗ cao minh, linh diệu. - Sống phối hợp với Trời, coi mình như một hiện thân của Thượng Đế. Các nhà Huyền học Đông cũng như Tây, đều tin tưởng rằng sau bức màn hiện tượng biến thiên, chất chưởng, còn có một bản thể siêu việt tuyệt vời. Các Ngài không biết dùng danh từ gì để mô tả Tuyệt đối ấy cho hay, cho phải, cho nên hoặc là tuyên bố mình bất lực trước Tuyệt đối vô biên ấy, hoặc là dùng những danh từ tiêu cực, mơ hồ để diễn tả, để đề cập đến Tuyệt đối thể ấy. Các Ngài cho rằng con người sinh ra phải tìm về cho được tới nguồn mạch thiêng liêng, huyền diệu ấy, và tất cả các sự biến thiên của vũ trụ lúc chung cuộc cũng kết thúc trong đại thể vô biên, vô tận ấy. Mà nguồn mạch linh thiêng huyền diệu ấy đã tiềm ẩn ngay trong lòng con người. Con người chỉ việc lắng lòng lại, chỉ việc thu thần định trí nhìn sâu vào tâm khảm mình sẽ tìm ra được Bản thể siêu việt huyền nhiệm ấy. Khi đã đạt tới cõi tâm linh siêu vi huyền nhiệm ấy, con người sẽ thoát được mọi trạng thái vong thân, và vươn lên bên trên cái thế giới tương đối đầy mâu thuẫn như Thị phi, thiện ác, sinh tử, và thoát ly được hết những gì hữu hạn, nhân vi, kiềm tỏa con người. Khi đã đạt tới cõi tâm linh ấy, thì lập tức cũng sẽ thâm nhập, hòa đồng được với cõi vô biên man mác, và chính nhờ đó mà con người lấy lại được cái phẩm giá vô song của mình. Vì nhận ra được chiều kích mênh mông vô hạn, vì nhận ra được giá trị vô biên của mình, con người sẽ sống hồn nhiên, tiêu sái, thảnh thơi, hạnh phúc… Tóm lại, một con người đi trên con đường huyền học lúc nào cũng lo trau chuốt nhân cách, cố sống sao cho tinh ròng viên mãn, để có thể rung cảm, để có thể hòa nhịp, hòa đồng được với Đạo, với vũ trụ chi tâm. Nếu một nghệ sĩ dùng tài nghệ mình, tâm linh mình mà khám phá ra được và diễn tả ra được Thần linh hay Thái hòa tiềm ẩn trong đáy lòng vũ trụ, trong đáy lòng vạn vật, khiến cho người khác cũng thưởng thức và được cảm thông với nguồn mạch huyền linh ấy một phần nào, thì các nhà huyền học có bổn phận khám phá ra và diễn tả lại Thần linh ngự trị nơi đáy lòng mình, bằng lời lẽ, bằng đời sống, để những người bàng quan cũng được cùng mình chia sẻ sự cảm thông, hòa hợp ấy… Gần đây, có dịp đọc quyển Sáng tạo và Lão giáo Creativity and Taoism của Trương Trung Viên Chuang Chung Yuan, tôi thấy tác giả cũng có những nhận định tương tự như vậy về Lão, Trang. Trương Trung Viên viết Đối với Lão, Trang, đạt tới bản thể tuyệt đối là vào được lãnh vực siêu việt vô cùng, vào được cảnh giới hư vô, nơi đó ta có thể cảm thông được với vạn hữu… Chúng ta có thể đi vào cảnh giới hư vô bằng Điềm hay bằng Trí. Điềm là Điềm đạm Hư vô, Phật gia gọi thế là Định. Trí là Huệ hay Bát nhã…» [6] Điềm tĩnh là phương pháp tiệm tu. Tuệ trí là phương pháp đốn ngộ. Hai phương pháp này đều được đạo Lão mô tả, và cũng có một mục đích là để vào được cảnh giới Hư vô… Hư vô có thể là Thiên quang, hay là Thuần phác hỗn độn. Đó là hai phương diện của một Thực thể.» [7] Cho nên muốn tiến vào được cảnh giới Hư vô, Vô thức Đại đồng, vào tới Thiên chân Bản thể, phải có chân trí huệ. Trí huệ mới là chiếc chìa khóa để mở cửa Đạo, để phanh phui ra được mọi kỳ bí của Hư vô, ở nơi đó không còn phân biệt nhĩ ngả, ở nơi đó vạn sự, vạn hữu là một…» [8] Vào trong cảnh giới hư vô, vì cảm thông được với vạn hữu, nên coi mọi sự như một, hòa hợp tuyệt đối, hết còn phân nhĩ ngã…[9] Như vậy, nhờ điềm đạm hư vô, nhờ trí huệ, con người sẽ chuyển hóa được mình, sẽ cảm thông được với vạn hữu.[10] Trang Tử cũng chủ trương cần phải thoát ly mọi ràng buộc của thế giới biến thiên, mọi giá trị tương đối của ngoại cảnh. Càng rũ bỏ được cái phù du, hư ảo bao nhiêu, thì càng đạt được đời sống đích thực bấy nhiêu…[11] Như vậy, đối với Trang tử, Chân nhân hay là con người giác ngộ là con người đã phá vỡ được cái kén Tiểu ngã, để hòa mình với Đại ngã…[12] Những nét trên tưởng đã phác họa được chân tướng Trang tử. IV. ĐẠI CƯƠNG HỌC THUYẾT TRANG TỬ Trang Tử là một nhà Huyền học, nên lời lẽ của Ông, tư tưởng của Ông tuy là ẩn ước, bóng bảy, nhưng nếu chúng ta tìm được chốt then đường hướng của Ông, cũng như của đời Ông, ta sẽ thấy chúng trở nên hết sức rõ ràng. Ông viết trong chương Ngoại vật Có nơm là vì cá, Được cá hãy quên nơm. Có dò là vì thỏ, Được thỏ hãy quên dò. Có lời là vì ý, Được ý hãy quên lời. Ta tìm đâu được người biết quên lời Hầu cùng nhau đàm luận.» [13] Thế tức là Ông muốn nhắn nhủ chúng ta đừng nên câu nệ về những lời nói của Ông, và bút pháp của Ông, đừng bận tâm đến - Chi ngôn gặp đâu nói đó - Trùng ngôn Gán lời mình cho một nhân vật lịch sử nào - Ngụ ngôn Nói bằng thí dụ, sự tích, bóng gió, như trong chương Thiên hạ, F nhưng phải chú trọng đến những tư tưởng của Ông, những chủ trương chính yếu của Ông. Đại khái Trang Tử chủ trương - Vũ trụ này có hai phần 1- Một là Đạo. Mà Đạo thời vô sở bất tại, vô biên tế, duy nhất bất khả phân, vĩnh cửu trường tồn. ch. 6-f,g 2- Hai là Hình tướng biến thiên, luẩn quẩn trong vòng tương đối, sinh tử. ch. 6-s,f Hai đàng tuy vô cùng khác biệt, nhưng lại liên lạc hết sức chặt chẽ, hết sức mật thiết với nhau, đến nỗi có thể nói được là Đâu có hiện tượng, thời ấy có Đạo, và như vậy cái hữu hạn vừa nằm trong cái vô cùng, lại vừa hàm chứa được cái vô cùng. Từ trong lòng Đạo mà nhìn ra, thì muôn loài muôn vật là một, hoàn toàn giống nhau, vô cùng vô tận như nhau. Từ trong cảnh giới hiện tượng mà nhìn ra thì muôn loài muôn vật hết sức khác nhau, biến thiên, phù du, ảo hóa. ch. 5-a - Con người cũng như vũ trụ, có hai phần 1- Một là Đạo thể vô biên tế bên trong. 2- Hai là con người phàm tục bên ngoài, với thất tình lục dục niệm lự biến thiên, trí thức, phán đoán thường nhật, thông thường, tử sinh vô định. Thiên Thu Thủy 秋 水 có một câu bất hủ, tóm tắt được quan niệm này, đó là Thiên tại nội, nhân tại ngoại. 天 在 內 人 在 外 Thu thủy, A. - Xã hội loài người, cũng có hai phần 1. Một là Thiên nhiên. Thiên nhiên là cái gì thuộc về Thiên chân, Thiên tính, và như vậy chắc chắn là hoàn mỹ. 2. Hai là Nhân tạo. Mà nhân tạo là tất cả những gì do khối óc con người bày vẽ ra, cho nên dĩ nhiên là kém cõi, dĩ nhiên là vụng về, không thể nào đem lại hạnh phúc thật cho con người được. ch. 11-f; 6-a Và dĩ nhiên, Ông chủ trương rằng con người đạo hạnh phải siêu xuất - Khỏi vòng hiện tượng có giới hạn, để vươn lên tới Đạo thể vô biên, vô hạn ch. 17-a; 6-g; 12-i, k; 16-b - Khỏi vòng niệm lự, tri thức, nhận định gian trần để đạt tới siêu thức. ch. 2-c - Khỏi vòng nhân vi, nhân tạo, để trở về với Thiên nhiên, vì nhân vi nhân tạo không thể nào đem lại hạnh phúc thực sự cho con người. ch. 8-a,b,c,d; 9-a,b,c; 10-d; 11-a, 12-c; 13-b,c; 14-f; 17-a; 25-g Chính vì thế mà Ông đả kích tất cả những gì mà con người đã vời ra, bất kỳ về phương diện gì . Kiến thức ch. 25-h . Luân lý ch. 8-a; 17-a; 25-h . Chính trị ch. 9-c; 10-a; 29-b . Nghệ thuật ch. 9-a . Kỹ thuật, cơ khí, văn minh ch. 12-k Ông hoàn toàn thoát sáo, thoát hết mọi khuôn khổ bên ngoài và cho rằng có vậy tâm thần mới được phiêu diêu khinh thoát. Trang Tử không hề đả phá một cách tiêu cực, nhưng thực ra Ông tích cực dạy con người phải đi tìm cái cao siêu, vĩnh cửu, cái lý tưởng tinh hoa, dạy con người phải sống phối kết với Trời, với Đạo cùng trời đất trường sinh bất tử. Có như vậy mới là biết được cái đại dụng, cái vô dụng của cuộc đời. Ông cũng chủ trương cái Tuyệt đối nằm sẵn trong lòng cái tương đối, cũng như thường xuyên bao trùm, khỏa lấp cái tương đối cho nên khi đã vươn lên tới cõi Đại nhất, Đại đồng, con người sẽ hóa giải được mọi chuyện phân biệt lăng nhăng do khối óc con người tự tạo ra. Cho nên chủ trương của Ông là coi thường mọi chuyện đời tương đối, coi in một như nhau mọi cuộc biến thiên Sống chết, vắn dài, xa gần, cao thấp, quí tiện, hay dở, phải trái, yểu thọ ch. 2 Trang Tử đưa ra hai phương pháp chính yếu để đạt tới Tuyệt đối. Đó là Điềm và Trí Thiện tính, 16-a Tư Mã Thừa Trinh Ssu Ma Cheng Chen một đạo sĩ thế kỷ 10, đã cho rằng chữ Trí nơi thiên Thiện tính, a tương đương với chữ Huệ prajna; chữ Điềm Thiện tính, 16-a tương đương với chữ Định. Trí hoặc Minh để nhìn thấu Bản thể. Điềm hoặc Định tức là giữ Tâm bình tĩnh, tĩnh lãng.[14] Thế là từ Lão Trang với hai chữ Điềm, Trí ta có thể bước sang lãnh vực Thiền tông dễ dàng, vì Thiền tông cũng đã được tóm thâu trong hai chữ Định Dhyana và Huệ prajna. Dẫu sao thì Trang cũng là người bàn về quan niệm Phối Thiên rõ ràng nhất, trong sáng nhất. Trang Tử khẳng định Người xưa sống hợp nhất với Trời.[15] Nơi chương Thiên hạ, Trang Tử viết Không lìa xa gốc gác thời gọi là Thiên nhân; Không lìa xa tinh hoa thì gọi là Thần nhân; Không lìa xa Chân thể hoàn hảo, thì gọi là Chí nhân… lấy Trời làm tông, lấy Đức làm gốc, lấy Đạo là cửa… đó là Thánh thần… Thần, Minh, Thánh, Vương đều cùng một nguồn mà ra… [16] Nơi chương Sơn Mộc, Trang Tử viết Có người hỏi tại sao nói được Người với Trời là một. Trọng Ni đáp Đã là người, tức là Trời… Sở dĩ người không là Trời, là do hành động riêng tư, cho nên thánh nhân điềm tĩnh hòa mình với đại hóa… [17] Nơi chương Tri Bắc Du, Khiết Khuyết hỏi Bị Y về Đạo. Bị Y bảo Hãy giữ thân hình cho ngay ngắn, Hãy tập trung tinh thần mà nhìn vào Duy nhất, Trời sẽ hòa điệu với bạn. Hãy thu nhiếp trí lự, hãy hợp nhất với Tuyệt đối, Thần sẽ giáng trong lòng bạn, Đức sẽ trở nên vẻ đẹp của bạn, Đạo sẽ là nhà của bạn… Bạn hãy hồn nhiên, ngây thơ như con nghé mới sinh, đừng tìm duyên cớ mà chi…» [18] Trang Tử có lẽ là một trong những người đầu tiên trên thế giới mô tả được rõ ràng cái đạo Thánh nhân. Nơi chương Canh Tang Sở, Ông viết Muốn được tĩnh lãng, hãy giữ cho khí bình. Muốn có thần, hãy giữ cho tâm thuận. Muốn làm cho phải, thì chỉ khi cần thiết, bất đắc dĩ mới làm. Chỉ bất đắc dĩ, mới chịu làm làm mới chịu bỏ trạng thái tĩnh lãng tâm thần, đó là đường lối thánh nhân vậy.» [19] Ông viết Giữ cho thần toàn vẹn là đạo thánh nhân.» [20] Ông để Khổng Tử bình luận về những người theo đạo thánh nhân như sau Họ là những người theo thuật của ông Hỗn Độn. Họ chỉ biết Tuyệt đối, mà không biết tương đối. Họ chuyên trị tâm, mà không cần trị cảnh. Họ rõ được quang minh, về được với Thuần phác, Duy nhất. Họ vô vi tĩnh lãng để trở về trạng thái thuần phác nguyên thủy. Họ hòa đồng với Tính, ôm ấp lấy Thần…» [21] Trang Tử ngoài ra còn dạy chúng ta đừng để cho ngoại cảnh, cho thất tình, lục dục điên đảo, làm hư hoại tâm thần ch. 5-c, f; 23-f Mỗi xuyến xao tâm thần là một tai họa, vì nó vừa làm giảm thọ con người, vừa làm cho chúng ta mất bình tĩnh trong sáng 23-g,f Trang Tử còn khuyên chúng ta nên an thời thuận xử ch. 23-g,f đừng bon chen vào chỗ công danh lợi lộc, đừng có kình chống với thiên nhiên, với tha nhân 33-b, có vậy mới được thảnh thơi hạnh phúc. Lại nên sống thoát sáo ch. 2; 3, có một đời sống cao đại, một tâm hồn thoát tục ch. 11-e. Hãy rũ bỏ hình tướng hữu hạn, tâm tư hữu hạn mà băng lên sống trong lòng vô hạn, vô cùng ch. 5-e; 11-e; 15-a,b; 16-b; 19-e; 22-e; 23-b,c; 24-h. Ông ước mong cho muôn loài được phát triển theo căn cơ, theo thiên tính của chúng. Thiên Biền mẫu viết Cẳng le thì ngắn, cố mà nối dài thì nó khổ. Chân hạc thì dài, chặt bớt thì nó đau, cho nên tính mà dài, không phải là cái nên chặt bớt, tính mà ngắn không phải là cái nên nối thêm thế thì không có gì là lo.» [22] Tóm lại, thực đúng như trong Thiên hạ thiên đã nói Trang Tử trên thì vui cùng Tạo hóa, dưới thì bè bạn với những người đã thoát vòng sinh tử, thủy chung…» [23] Những lời nói của Trang Tử hết sức sắc bén, hết sức linh động, biến hóa.[24] Lắm lúc ông có giọng châm biếm, như cợt, như đùa, nửa hư, nửa thực, nhưng chung qui, Ông chỉ muốn cho người đọc Ông có cái nhìn rộng hơn, lối sống hay hơn, lý tưởng hơn, nhất là bỏ được cái hữu hạn, để vươn lên tới vô cùng. g Lúc thì Ông vui miệng nói ngay chi ngôn lúc thì ông làm sống động lại các nhân vật lịch sử, và cho họ nói những lời mà Ông muốn trùng ngôn, lúc thì Ông kể truyện ngụ ngôn ngụ ngôn ch. Thiên hạ, 33-f, lúc thì Ông tranh luận, so sánh, lúc thì đàm thoại, lúc thì vấn đáp, tất cả đều có mục đích phá vỡ cái vỏ ngã chấp» của ta, để chúng ta mở mắt ra nhìn thấy được khung trời nội tâm, khung trời bản thể vô biên vô tận. Bất kỳ một hoàn cảnh nào, bất kỳ một câu chuyện gì, đối với Trang, cũng như là một chiếc bàn đạp, để tung mình lên cho tới cõi siêu vi. Nhờ đó mà Trang không xa lìa đời sống hằng ngày, không xa lìa chúng nhân mà vẫn làm được công trình là giúp con người vươn lên trên những cái nhỏ hẹp của đời sống hằng ngày, đó là băng lên cho tới cõi u linh, huyền diệu. Đọc Trang, ta thấy rằng nếu không thoát sáo, không thể nào có một đời sống nội tâm phong phú đích thực… Chung qui, Trang Tử chỉ ước muốn chúng ta sống tiêu diêu, khinh thoát, trong cõi Tuyệt đối, vô cùng mà Ông gọi là . Cái nghề nghiệp vô vi Vô vi chi nghiệp, . Cái làng không ở nơi đâu Vô hà hữu chi hương, . Cánh đồng bao la rộng rãi Khoáng mạc chi dã, Trang Tử chỉ ước muốn chúng ta trở thành những . Thần nhân . Thánh nhân . Chí nhân ch. I-c; 33-a . Chân nhân ch. I-c; 2c, f . Những người đạt tới Chí đạo ch. 11-c Mà chân nhân thì trên phải hòa mình được với Đại thể, dưới thì vui sống được với mọi người, mọi loài, mọi vật, với cảnh trí thiên nhiên, với mọi hoàn cảnh mình gặp 2h, 3abc, 5d Tâm hồn thì như làn nước lắng chiếu soi được trời đất nhân quần một cánh hết sức vô tư và chân thật. 13 a Đọc Trang, trước hết phải hiểu tinh thần của Trang, chủ trương của Trang. Sách của Trang là một kho tàng châu báu, nhưng thay vì để kho tàng ấy chất đống vào một nơi, ông đem nó vung vãi ra trong một vùng lớn lao gồm chữ, dấu chúng vào trong những ngụ ngôn, những huyền thoại những câu chuyện bông lông… Ta hãy quên lời quên chuyện của Trang kể mà chỉ lưu tâm lượm lặt lấy những tư tưởng của Trang. Đó mới chính là những châu ngọc mà Trang dành cho chúng ta vậy. V. LƯỢC DỊCH 7 CHƯƠNG TRONG NỘI THIÊN I. TIÊU DIÊU DU a. Hãy sống một cuộc đời huyền hóa với trời đất đoạn a,b Hồn ta hỡi, hãy tiêu diêu, Tung đôi cánh rộng khinh phiêu chín tầng… Hãy tung cánh chim bằng muôn dặm, Cưỡi gió mây bay thẳng về Nam, Bay về quê cũ giang san, Hồ trời vùng vẫy miên man thỏa tình. b. Mặc cho miệng thế dèm pha, chỉ trích đoạn a,b Mặc nhân thế rẻ khinh đàm tiếu, Óc phàm phu sao hiểu chí nhân… Vùi thân trong chốn hồng trần, Họ như ve, sẻ qua lần tháng năm. Tầm mắt hẹp mà thân ti tiểu, Kiếp phù du nào hiểu chi đâu, Thân lươn bao quản lấm đầu, Cốt sao cho khỏi cơ cầu thì thôi, Phận sâu bọ, đành rồi sâu bọ, Thân nấm rêu nào rõ tuần trăng. Ve sầu nào biết thu xuân, Minh linh ngoài mấy vạn năm hay gì? Như Bành tổ có chi là thọ, Mà chúng nhân quá cỡ tán dương. c. Hãy sống thoát tục, vươn lên cao đại đoạn c Người vui tước phận lý hương, Ngươi vui mũ áo xênh xang trị vì. Kìa Liệt Tử thích đi mây gió, Cưỡi gió mây đây đó thỏa lòng. Còn ta khinh khoát vô cùng, Sánh vai nhật nguyệt, vẫy vùng khinh phiêu. Quên mình quên hết mọi điều, Quên tên, quên hết bao nhiêu công trình.[25] Sống đời sống thần linh sảng khoái, Như Hứa Do chẳng đoái công hầu. Uống ăn nào có chi đâu, Mà lo với lắng cho rầu lòng ai. d. Đời sống thần linh không phải là chuyện hoang đường đoạn d Ta chẳng nói những lời phách lối, Lời của ta đâu nỗi hoang đường. Lời ta minh chính đường hoàng, Vì người không hiểu, trách quàng trách xiên… Kẻ mù tối sao xem mầu sắc, Người điếc tai sao bắt âm thanh. Cho nên những kẻ vô minh, Tối tăm ù cạc, ngọn ngành hiểu chi, Sao biết được uy nghi sang cả, Của những người huyền hóa siêu linh. Đất trời gồm tóm trong mình, Lồng vào muôn vật sự tình nào hai. Dẫu sóng cả ngất trời không đắm, Dẫu nóng nung cũng chẳng làm sao. Trời mây mặc sức tiêu dao, Cho dù Nghiêu, Thuấn dễ nào sánh vai… e. Phải biết lợi dùng hết tầm kích của đời mình đoạn e, f Kiếp sống nọ mấy ai biết dụng, Biết cách dùng cho đúng, cho hay. Có dưa năm thạch trong tay, Bổ ra năm bảy, dưa này vứt đi. Như nếu biết để y như trước, Dùng làm phao, sông nước nó băng. Đổi bất qui thủ lấy vàng, Ngỡ là đã khéo tính toan lãi lời. Ai ngờ nó giúp Ngô thắng Việt, Giúp chủ nhân mãn kiếp vinh quang. Biết dùng thời thực mênh mang, Dùng sai, dùng dở oán than nỗi gì. Nhưng hay nhất là khi vô dụng, Thoát vòng đời tù túng lợi danh. Sống trong Vô cực siêu linh, Xa bề khổ ải, mặc tình nhởn nhơ… 2. TỀ VẬT LUẬN Ta và trời đất cùng sinh, Ta và muôn vật sự tình chẳng hai.[26] Ta nào biết vắn dài, nhĩ ngã, Lòng muôn phương, muôn ngả tỉnh say.[27] Thênh thang chèo quế buồm mây, Lòng trời lạc nẻo chốn này là đâu? [28] Nhạc trời tấu vui sầu muôn điệu,[29] Bóng quang huy phiêu diễu mung lung, Nơi đây ta dứt lòng trần, Bạn cùng thần thánh, muôn phần hân hoan.[30] Triều nổi sóng muôn vàn ta mặc, Lửa ngất trời phần phật ta khinh.[31] Ta nay đã thoát điêu linh, Thoát vòng sinh tử, tử sinh của đời.[32] Ta sống giữa lòng trời vĩnh cửu, Ta sống trong khu nữu muôn loài.[33] Vời trông thế sự vần xoay, Ta nào còn biết bên này bên kia. Tranh chấp hết, thị phi cũng hết, Thị với phi phân biệt uổng công.[34] Đã vài tới điểm đại đồng, Trông ta trời đất mênh mông một màu. Lớn với nhỏ in nhau một lứa, Sống vắn dài cũng thủa phù sinh. Sợi lông bát ngát mênh mông, Mà xem non Thái như tình cỏn con. Kẻ chết yểu sống hơn trăm kiếp, Còn Lão Bành yếu triết, tảo vong,[35] Ta nay xếp mọi tơ lòng, Hết niềm nhĩ ngã, sống trong lòng trời.[36] Nguồn mạch ấy chẳng vơi, chẳng cạn. Mà tràn lan, lai láng rạt rào. Kho trời đã rõ tiêu hao, Tiêu sao cho hết, dùng sao cho cùng.[37] Mặc tôm cá sống cùng tôm cá, Mặc hươu nai nghĩa gá hươu nai, Mặc cho khỉ vượn sánh đôi, Mặc cho trai gái tìm nơi tương phùng.[38] Ta tìm Đạo trong lòng vũ trụ,[39] Trong lòng ta ta cứ tìm Trời. Thương cho nhân thế miệt mài, Lao đao lận đận suốt đời uổng công.[40] Những bôn tẩu mơ mòng ảo ảnh, Khiến cho đời hiu quạnh gian truân. Nào hay ở giữa lòng trần, Tấc thành đã sẵn muôn phần quang hoa.[41] Nơi chốn ấy chói lòa ánh sáng,[42] Cũng là nơi tĩnh lãng siêu nhiên.[43] Là nơi sực nức hương tiên, Rườm rà ta bỏ, tần phiền ta quăng.[44] Đừng biện luận nói năng chi nữa, Biết nói sao, biết tả làm sao? [45] Mênh mông bát ngát rạt rào, Im hơi lặng tiếng mới cao, mới tài.[46] Ta quên hết hình hài ngôn ngữ, Quên rằng ta còn có hay không.[47] Lạ thay phong thái huyền đồng, Rũ sao cho sạch tơ lòng mới nghe.[48] Sống khinh khoát muôn bề khinh khoát, Cùng trăng sao bát ngát xa chơi. Lòng mang vũ trụ đất trời, Cùng chư thần thánh muôn đời sống chung.[49] Sống mãi mãi vô cùng, vô tận, Mặc trời mây chuyển vận quanh ta, Mặc cho trần thế bôn ba, Vì ta đã được tinh hoa đất Trời… [50] Thử ướm hỏi đâu nơi dừng gót, Đâu là nơi cùng tột phải đi? Ta nay truyền lẽ huyền vi, Có Trời lập tức hết kỳ bôn ba. Được Trời, Đạo ấy là đạt đích, Hết lần mò tầm mịch lăng nhăng.[51] Được Trời là được Thiên chân, Chân nhân phải có Thiên quân đáy lòng.[52] 3. DƯỠNG SINH CHỦ Muốn cho đời sống khinh phiêu, Bớt điều háo hức, bớt điều bon chen. Chớ lo mua chuốc lời khen, Cũng đừng đọa lạc tội khiên gông cùm. Sao cho trong ấm ngoài êm, Đề huề gia đạo, chu tuyền tấm thân. Chớ xông vào chỗ gian truân, Tránh điều tranh chấp, giành phần hơn thua.[53] Kìa xem thủ thuật mổ bò, Cố tìm khớp trống, mới lùa lưỡi dao. Nơi không chống đối mới vào, Chỗ nào cứng rắn đâm lao ích gì, [54] Lầu son gác tía mà chi, Nếu lòng không được mọi bề khinh phiêu.[55] Sống đời khinh khoát tiêu diêu, Buông tay, đắm mắt cũng điều thiên nhiên. Có chi mà sợ cùng phiền, Chết là thoát tục, thành tiên ngại gì.[56] 4. NHÂN GIAN THẾ SỐNG TRÊN ĐỜI Sống đời ở giữa thế gian, Đừng đem dây rợ buộc ràng mà chi. Đừng có ỷ sở tri, sở học, Mà tính toan xoay cuộc cờ đời. Trước khi muốn cảm hóa người, Tâm linh trước phải tuyệt vời mới nên.[57] Tâm linh phải biết niềm chay tịnh.[58] Giữ cho lòng bình tĩnh hư vô, Nhà không ánh sáng hiện ra, Lòng không sẽ thấy chói lòa trời cao.[59] Kìa Vũ, Thuấn xưa nào có khác, Nọ Phục Hi cũng trạc thế thôi. [60] Còn như đối đãi với đời, Dẫu rằng quyền biến chớ sai tấc thành. Đừng nóng nảy lo tranh lo chấp, Đừng bon chen háo hức, say mê. Trước sau trang trọng đề huề, Đừng đem nóng giận hại bề giao du.[61] Với người chớ khư khư cố chấp, Phải lựa chiều tùy bậc tùy nơi, Dạy người không phải bẻ người, Mà là uốn nắn lần hồi mới hay.[62] Muốn dại dụng chớ say tiểu dụng, Đừng cho người thao túng đời ta. Thao quang, hối đức» mới là, Thần minh sau trước khôn qua lẽ này.[63] 5. ĐỨC SUNG PHÙ Vương Bài nước Lỗ cụt chân, Nhưng mà đệ tử đông bằng Trọng Ni. Thường Quí lạ, mới đi ướm hỏi, Hỏi Trọng Ni nông nổi trước sau. Vương Bài nào lạ chi đâu, Lại thêm tàn tật lẽ nào tiếng tăm. Trọng Ni đáp Thánh nhân là thế, Ngay Khưu này hồ dễ sánh vai. Ta còn muốn lấy làm thầy, Hèn chi kẻ kém Khưu này theo chân. Một nước Lỗ đã rằng chi lạ, Ta muốn cùng thiên hạ đi theo. Họ thường gạn hỏi đến điều, Con người như thế cao siêu thế nào. Trọng Ni đáp Biết bao cao cả, Sống chết kia đâu há quan tâm. Trời long, đất lở rầm rầm, Mà Ngài đâu có lộ phần xuyến xao. Biết tính mạng, tiêu hao gốc ngọn, Lòng lâng lâng nào bợn trần ai. Mặc cho muôn vật vần xoay, Bởi vì chủ chốt trong tay đã cầm. Thường Quí nói xin phân giải rõ, Nghĩa huyền vi soi tỏ một phen. Đáp rằng Vạn vật biến thiên, Phải nhìn cho tỏ hai bên dị đồng. Từ khác biệt mà trông vạn vật, Thời chia phôi gan mật, Việt Ngô. Nhưng từ đồng điểm nhìn ra, Muôn loài là một, phôi pha chưa từng. Vui sống cõi hòa đồng của Đức, Xếp một bên nhận thức ngũ quan. Sá chi mất một chân phàm, Chẳng qua hòn đất ném tòm khác chi.[64] Dùng trí tuệ để suy tâm khảm, Dùng tâm cơ nhàn lấm thường tâm.[65] Đã tìm ra được Thiên quân, Như hồ trong vắt chiếu cùng trời mây. Như tùng bách tháng ngày tươi tốt, Như Thuấn Vương đạo cốt Tiên phong. Thảnh thơi, điềm tĩnh ung dung, Oai phong hùng dũng giữa vòng biến thiên. Vì lòng họ gồm kiêm trời đất, Lại cưu mang vạn vật sinh linh. Cũng là tai mắt thân hình, Mà trong rực rỡ tâm linh huy hoàng. Họ hiểu biết mênh mông vô tận, Sống vô cùng, vô hạn từ bao. Ai theo nào khiến ai nào, Con người thế ấy, nói sao cho cùng.[66] Thiên chân ví ở cõi lòng, Sá chi lành sất, hình dung bề ngoài. Tâm linh đường đã vạch rồi, Sá chi mũ mãng, hán hài, công danh. Mở lòng rộng rãi mông mênh, Trời kia đất nọ há dành riêng ai.[67] Đừng nên đày đọa hình hài, Đừng vì danh hão phí hoài tấm thân. Tại sao tù túng tinh thần, Hãy nên khôn khéo gỡ lần vấn vương.[68] Thái Hòa giữ vẹn Tâm thường», Thất tình chớ để tổn thương tâm thần. Sự đời chất chưởng thăng trầm, Lẽ trời đã thế bận tâm làm gì. Cùng người hoan lạc sầu bi, Dung nhan ta đổi tùy nghi, tùy thời. Giữ sao cho vẹn lòng trời, Đừng cho gió cuốn, sóng trôi tâm hồn. Thế là giữ được tài toàn», Thế là đức hạnh chứa chan tuyệt vời.[69] Dừng chân lòng dạ có nơi, Ngoại thân nào quản hình hài nhỏ nhen. Hình người, lòng đã thành tiên, Tình đời phải trái tần phiền sạch không. Với người tuy vẫn lộn sòng, Với Trời kỳ thật hòa đồng từ bao.[70] 6. ĐẠI TÔNG SƯ Bài Đại Tông sư này gồm ba đề mục chính a. Chân nhân. b. Đạo. c. Nghệ thuật sống. Vậy chương này sẽ có ba tiết bàn về những vấn đề trên. a. Chân Nhân Biết trời mà biết cả người, Đó là cái biết tuyệt vời thâm uyên. Biết trời mới biết căn nguyên, Biết người mới biết chu tuyền tấm thân. Chân tri là bậc chân nhân, Chân nhân mới được thông phần chân tri. Chân nhân khinh khoát huyền vi, Há lo tranh chấp, há vì công danh. Trèo cao lòng cũng chẳng kinh, Nước trào, lửa cháy, tâm linh chẳng sờn. Một lòng sau trước sắt son, Lòng mang Đạo cả nào còn sợ chi. Chân nhân nằm ngủ chẳng mê, Còn khi tỉnh thức muôn bề thảnh thơi. Chân nhân khác biệt người đời, Niềm tràn phất phới, niềm trời sâu xa. Tử sinh nào khác chi là, Đi vào chẳng thích, đi ra chẳng cần. Nhân tâm chẳng phá đạo tâm, Ý trời há để lòng trần cản ngang. Cho nên dáng dấp đàng hoàng, Tâm hồn bình thản dung quang sáng ngời. Vui buồn hợp nhất với Trời, Mênh mông bát ngát, ai người dám so. Kinh quyền tùy tiện đẩy đưa, Trời chiều, vả lại người ưa mới là.[71] b. Đạo Đạo trời hữu tính hữu hình, Vô vi vả lại vô hình mới hay. Dễ truyền, khó bắt lạ thay, Giữ thời giữ được, trông rày hẳn không. Tự sinh, tự bản vô cùng, Có từ trời đất còn không có gì. Sinh trời sinh đất ra uy, Quỉ thần âu cũng là tùy sở do. Cao cao vô tận, khôn dò, Cao hơn Thái Cực vẫn cho là thường. Thẳm sâu sâu mấy ngàn muôn, Sâu hơn vũ trụ mà nhường không hay. Lâu lai nào kể tháng ngày, Trước trời, trước đất, lâu này lâu chi. Sống từ muôn thuở vẫn y, Ngàn muôn tuổi thọ, đã gì già nua. Hi Di, Hoàng đế, Kiên Ngô, Kham Phi, Chuyên Húc đã nhờ thần thông. Đạo trời soi sáng cõi lòng, Mới thành Thần Thánh sống cùng trời mây. Lão Bành, Phó Duyệt nhờ tay, Ngung Cường, Vương Mẫu may thay được người. Mới nên Thần Thánh tuyệt vời, Ngự nơi Thiếu Quảng, chơi nơi Ngân Hà. Biết bao thỏ lặn, ác tà, Hai vầng nhật nguyệt khôn qua Đạo Trời. Kìa như Bắc Đẩu thảnh thơi, Cũng nhờ Đạo cả mới ngôi cửu trùng. Đạo Trời ngẫm thực vô cùng, Biết bao quyền phép thần thông nhiệm mầu.[72] c. Nghệ thuật sống Ta nên sống thuận mệnh Trời, Vấn đề sinh tử nên coi là thường. Hình hài chẳng vấn vương tấc dạ, Vẻ bên ngoài biến hóa quản chi. Tồn vong sinh tử cũng y, Chẳng qua máy tạo huyền vi an bài.[73] Đời trần thế là đời mộng ảo, Tỉnh với mơ lộn lạo khác chi, Tử sinh như ở với đi, Như thay hình tướng có chi bận lòng. Dù Nam, Bắc, Tây, Đông cũng vậy, Trời bảo sao, ta hãy vui theo.[74] Mặc cho ngoại cảnh xoay chiều, Giữa lòng Tạo Hóa khinh phiêu thỏa tình. Đem tâm gởi mênh mông bát ngát, Thời tâm này mất mát làm sao? [75] Muốn tìm ra Đạo chí cao, Nếu không suy tưởng nhẽ nào tìm ra. Hãy thâu lượm tinh hoa sử sách, Hãy khơi tung nguồn mạch đáy lòng. Hư vô khi đã khai thông, Rồi ra sẽ được huyền đồng chẳng sai. Tìm Trời phải quên đời, quên cảnh, Quên phù sinh, ảo ảnh bên ngoài, Tâm hồn khi hết pha phôi. Mới mong rực rỡ ánh trời hiện ra. Đã thấy Đạo, đâu là kim cổ, Hết cổ kim vào chỗ trường sinh. Ham sinh thời lại điêu linh, Phù sinh chẳng chuộng, thần linh ấy là.[76] Hãy cố gắng vượt qua nhân nghĩa, Hãy quên đi nghi lễ của đời.[77] Quên mình, quên cả hình hài, Thông minh trí huệ, gác ngoài tâm linh. Hãy hợp với vô hình, vô tượng, Cùng Đại thông vô lượng sánh đôi.[78] Thế là được Đạo được Trời, Thoát vòng biến hóa muôn đời trường sinh… [79] Ai chỉ vẽ sự tình sau trước, Ấy thầy ta đại lược cho ta. Thầy ta muôn vật điều hòa, Mà nào kể nghĩa với là kể ơn. Ban ân trạch cho muôn thế hệ, Mà chưa hề lấy thế làm nhân. Trường tồn đã mấy muôn năm, Mà chưa hề thấy có phần già nua. Thầy ta chở cùng che trời đất, Lại ra tay điêu khắc muôn loài, Thế mà một mực thảnh thơi, Chưa hề có bảo là tài, là hay.[80] 7. ỨNG ĐẾ VƯƠNG Nghệ thuật trị dân Trị dân nước thế nào cho phải, Làm sao cho quốc thái dân an. Bên ngoài lo lắng sửa sang, Hay lo cảm hóa tâm can con người. Sửa sang nghi thức bên ngoài, Thực là tính chuyện vá trời đào sông.[81] Lấy lòng dân nước làm lòng, Nhu hòa điềm đạm, như không mới là. Đừng nên lận đận bôn ba, Lao tâm khổ tứ cho ra thân tàn. Phải cho phong độ đàng hoàng, Rồi ra mới đáng nêu gương cho người.[82] Minh vương nghệ thuật tuyệt vời, Công trùm thiên hạ mà coi như thường. Đức trời cảm hóa muôn phương, Há cần dân phải lo lường nài van. Âm thầm gây dựng mối giường, Để cho muôn vật an khương thái hòa.[83] Riêng mình rũ bỏ phù hoa.[84] Vui trong Đạo cả cao xa tuyệt vời.[85] Sống trong Vị thủy chơi vơi.[86] Cỡi chim Khinh khoát» ra ngoài lục hư. Làng Vô hà hữu ngao du, Sống trong Vô hữu» lặng tờ tịch liêu.[87] Vô vi như thể trời cao, Vô vi trác tuyệt nói sao cho cùng. Bao trùm vô tận thinh không, Mịt mù tông tích ai lùng cho ra.[88] Tâm hồn gương sáng sáng lòa, Chiếu soi muôn vật đâu là riêng tây.[89] Vô vi hỗn độn ai hay, Phẩm tiên chớ để lọt tay phàm trần… [90] CHÚ THÍCH [1] Mông 蒙 theo Địa lý chí thì thuộc nước Lương; theo Lưu Hướng biệt lục thì thuộc nước Tống. Phùng Hữu Lan cũng cho rằng Trang Tử là người nước Tống. [2] Lương Huệ Vương nguyên niên và khoảng năm 6 đời Chu Liệt vương 370. [3] Tề Tuyên Vương 332-313. Trang Tử đồng thời với Mạnh tử 372-289. Huệ Tử 380-300, Công Tôn Long 320-250. Như vậy, Trang Tử sống vào những khoảng năm 360-286. [4] Sử Ký Tư mã Thiên, Lão, Trang, Thân, Hàn liệt truyện. [5] Thượng dữ Tạo vật giả du, nhi hạ dữ ngoại tử sinh, vô chung thủy giả vi hữu…» 上 與 造 物 者 游 而 下 與 外 死 生,無 終 始 者 為 友 Thiên hạ, F. [6] To the Taoist, the attainment of absolute reality is to be in the realm of the great infinite, the realm of non being. To enter the realm of non-being is to have reached the ground of the great sympathy. One may enter the realm of non-being either through quiescence, t’ien 恬, or though intuitive knowledge, chih 智. The former concentrates upon repose, or what the Buddhists call Dhyana. The latter stresses on intuition or prajna. The concentration on repose is often referred to as the method of gradual attainment; stress on intuition is referred to as sudden enlightenment. Both methods are described in Taoist writings. But the goal of either method is the entry into the realm of non-being. - Chuang Chung Yuan, Creativity and Taoism, p. 49. [7] Non being manifests itself either as the Heavenly light or the uncarved block. They are two aspects of the same thing. Ibid. [8] The first approach, through Chih, or intuitive knowledge is pure self consciousness through immediate, direct, primitive penetration instead by methods that are derivative, inferential, or rational. In the sphere of intuitive knowledge, there is no separation between the knower and the known, subject and object are identified… Ibid. p. 49 [9] Free identification and interfusion in the realm of non-being are the functions of the great sympathy. In short, it is the Tao, the higher unity of all things. Ibid. [10] In the realm of non-being the interfusion and identification of multiplicity takes place as a manifestation or the great sympathy. Ibid, [11] Emancipation from the bondage of the ever-changing world, from the relative value of external things, and from the unstable and evasive existence, is achieved through the denial and denial. Ibid, [12] Psychologically speaking, it is the transformation from a consciousness limited to ego-form of the non-ego-like-self.» Ibid, [13] Thuyên giả sở dĩ tại ngư; đắc ngư nhi vong thuyên. Đề giả sở dĩ tại thố, đắc thố nhi vong đề. Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn. Ngô an đắc phù vong ngôn chi nhân nhi dữ chi ngôn tai. 筌 者 所 以 在 魚 得 魚 而 忘 筌 蹄 者 所以 在 兔 得 兔 而 忘 蹄 言 者 所 以 在 意 得 意 而 忘 言 吾 安 得夫 忘 言 之 人 而 與 之 言 哉. [14] According to the tenth century Taoist named Ssu-Ma-Cheng-Chen, the words Chih and T’ien are what the Buddhists refer to as Hsing, or Dhyana and Hui or Prajna. - Chuang Chung Yuan, Creativity and Taoism, p. 41… … According to Taoism, there are two routes leading to enlightenment, Ming, or Ontological insight, Ching or quiescence. Ibid, 123 … One may enter the realm of non-being either through quiescence T’ien or through intuitive knowledge, Chih. The former concentrates upon repose, or what the Buddhists call Dhyana. The latter stresses on intuition, or Prajna Ibid. 49 [15] Cổ chi nhân Thiên nhi bất nhân. 古 之 人 天 而 不 人 Liệt Ngự Khấu, 32-c [16] Bất ly ư tông, vị chí Thiên nhân. Bất ly ư tinh vị chi Thần nhân. Bất ly ư Chân, vị chi Chí nhân. Dĩ Thiên vi tông, dĩ đức vi bản, dĩ Đạo vi môn, triệu ư biến hóa, vị chi Thánh nhân. 不 離 於 宗, 謂 之 天 人. 不 離 於 精, 謂 之 神 人. 不 離 於 真, 謂 之 至 人. 以 天 為 宗, 以 德 為 本, 以 道 為 門, 兆 於 變 化, 謂 之 聖 人 Thiên hạ, 33-a … Chân giả, tinh thành chi chí dã. 真 者 精 誠 之至 也 Ngư phụ, 31-d … Thần hà do giáng, minh hà do xuất, thánh hữu sở sinh, vương hữu sở thành, giai nguyên ư Nhất… 神 何 由 降, 明 何 由 出? 聖 有 所 生, 王 有 所 成, 皆 原 於 一 Thiên hạ, 33-a [17] Hà vị nhân dữ Thiên nhất da? Trọng Ni viết Hữu Nhân, Thiên dã, hữu Thiên, diệc Thiên dã. Nhân chi bất năng hữu Thiên, tính dã. Thánh nhân yến nhiên, thể thệ nhi chung hĩ. 何 謂 天 與 人 一 邪? 仲 尼 曰 有 人, 天 也, 有 天, 亦 天 也. 人 之 不 能 有天, 性 人 晏 然 體逝 而 終 矣. Sơn mộc, 20-g [18] Khiết Khuyết vấn đạo hồ Bị Y. Bị Y viết Nhược chính nhữ hình, nhất nhữ thị, Thiên hòa tương chí. Nhiếp nhữ tri, nhất nhữ độ. Thần tương lai xá, đức tương vi nhữ mỹ, Đạo tương vi nhữ cư. 齧 缺 問 道 乎 被 衣. 被 衣 曰 若 正 女 形, 一 女 視. 天 和 將 至. 攝 女 知, 一 女 度. 神 將 來 舍, 德 將 為 女美, 道 將 為 女 居 ch. 22-c. [19] Dục tĩnh, tắc bình khí, dục thần tắc thuận tâm. Hữu vi dã dục dáng, tắc duyên ư bất đắc dĩ, bất đắc dĩ chi loại, thánh nhân chi đạo. 欲 靜 則 平 氣 , 欲 神 則 順 心. 有 為 也 欲 當 則 緣 於 不 得 已, 不 得 已 之 類, 聖 人 之 道 Canh Tang Sở, [20] Chấp đạo giả, Đức toàn. Đức toàn giả, Hình toàn. Hình toàn giả Thần toàn. Thần toàn giả, thánh nhân chi đạo dã. 執 道 者 德 全 德 全 者 形 全. 形 全 者 神 全. 神 全 者, 聖 人 之 道 也 [21] Bỉ giả tu Hỗn độn thị chi thuật dã. Thức kỳ nhất, bất tri kỳ nhị. Trị kỳ hội, nhi bất tri kỳ ngoại. Phù minh bạch nhập tố, vô vi phục phác, thể tính, bão thần. 彼 假 修 混 沌 氏 之 術 者 也. 識 其 一 不 知 其 二. 治 其 內 而 不知 其 外. 夫 明 白 入 素, 無 為 復 朴 體性, 抱 神 [22] Thị cố phù hĩnh tuy đoản, tục chi tắc ưu, hạc hĩnh tuy trường, đoạn chi tắc bi. Cố tính trường phi sở đoản, tính đoản phi sở tục, vô sở khứ ưu dã. 是 故 鳧 脛 雖短, 續 之 則 憂, 鶴 脛 雖 長, 短 之 則 悲. 故 性 長非 所 短, 性 短 非 所 續, 無 所 去 憂 也 Biền mẫu, 8-a. [23] Thượng dữ Tạo vật giả du, nhi hạ dữ ngoại tử sinh, vô chung thủy giả vi hữu… 上 與 造 物 者 遊, 而 下 與 外 死 生 無 終 始 者 為 友 Thiên hạ, 33-f [24] Chúng ta nên nhớ Trang Tử có tài biện luận như Huệ Thi, Công Tôn Long Hoặc hơn nữa. ch. I-e, f; 2-d; 5-f; 17-d, f, g; 18-b; 24-e; 25-d; 26-g; 27-b; 33-g. [25] Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh. 至 人 無 己, 神 人 無 功, 聖 人 無 名 ch. I-c [26] Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất. 天 地 與 我 並 生, 而 萬 物 與 我為 一 ch. 2-d [27] Ký dĩ vi nhất, thả đắc hữu ngôn hồ 既 已 為 一, 且 得 有 言 乎 ch. 2-d … Thị cố hoạt nghi chi diệu, Thánh nhân chi sở đồ dã. 是 故 滑 疑 之 耀 聖 人 之 所 圖 也 ch. 2-d. Phương khả, phương bất khả, Phương bất khả, phương khả. Nhân thị, nhân phi. Nhân phi, nhân thị… 方 可 方 不 可, 方 不 可 方 可. 因 是 因 非, 因 非 因 是 ch. 2-c [28] Thục tri bất ngôn chi biện, bất đạo chi Đạo. 孰 知 不 言 之 辯, 不 道 之 道 ch. 2-e [29] Nhữ văn địa lại, nhi vị văn Thiên lại phù? 女 聞 地 籟 而 未 聞 天 籟 夫 ch. 2-a [30] Thánh nhân ngu truân, tham vạn tuế, nhi nhất thành thuần. 聖 人 愚 芚 參 萬 歲 而 一 成 純 ch. 2-g Thánh nhân bất tùng sự ư vụ… nhi du hồ trần cấu chi ngoại 聖 人 不 從 事 於 務 [...] 而 遊 乎塵 垢 之 外 ch. 2-g [31] Đại trạch phần nhi bất năng nhiệt, hà hán hộ nhi bất năng hàn. 大 澤 焚 而 不能 熱, 河 漢 沍 而 不能 寒 ch. 2-f [32] Nhi du hồ tứ hải chi ngoại, tử sinh vô biến ư kỷ. 而 游 乎 四 海 之 外, 死 生 無 變 於己 ch. 2-f [33] Bỉ thị mạc đắc kỳ ngẫu, vị chi Đạo khu. Khu thủy đắc kỳ hoàn trung, dĩ ứng vô cùng. 彼 是 莫 得 其 偶, 謂 之 道 樞. 樞 始 得 其 環 中, 以 應 無 窮 ch. 2-c [34] Thị dĩ thánh nhân hòa chi dĩ thị phi, nhi hưu hồ Thiên quân thị chi vị lưỡng hành. 是 以 聖 人 和 之 以 是 非 而 休 乎 天 鈞 是 之 謂 兩 行 ch. 2-c [35] Thiên hạ mạc đại ư thu hào chi mạt, nhi đại sơn vi tiểu. Mạc thọ ư thương tử, nhi Bành tổ vi yểu. 天 下 莫 大 於 秋 毫 之 末, 而 大 山 為 小;莫 壽 於 殤 子, 而 彭 祖 為 夭 ch. 2-e. [36] Vong niên, vong nghĩa, chấn ư vô cảnh, cố ngụ chư vô cảnh 忘 年 忘 義 振 於 無 竟 故 寓 諸 無 竟 ch. 2-h. [37] Nhược hữu năng tri thử chi vị thiên phủ, chú yên nhi bất mãn, chước yên nhi bất kiệt, nhi bất tri kỳ sở do lai 若 有 能 知 此 之 謂 天 府 注 焉 而 不 滿 酌 焉 而 不 竭 而 不知 其 所 由 來 ch. 2-d. [38] Viên biên thư dĩ vi thư, mê dữ lộc giao, thu dữ ngư du. Mao Tường, Lệ Cơ, nhân chi sở mỹ dã 猿 猵 狙 以 為 雌, 麋 與 鹿 交, 鰍 與 魚 游. 毛 嬙, 麗 姬, 人 之 所 美 也 ch. 2-e. [39] Thị dĩ thánh nhân hòa chi dĩ thị phi, nhi hưu hồ Thiên quân. 是 以 聖 人 和之 以 是 非 而 休 乎 天 鈞 ch. 2-c. [40] Chung thân dịch dịch nhi bất kiến kỳ thành công, niết nhiên bì dịch nhi bất tri kỳ sở qui, khả bất ai da? 終 身 役 役 而 不 見 其 成 功, 薾 然 疲 役 而不 知 其 所 歸, 可 不 哀 邪 ch. 2-b. [41] Phù tùy thành tâm nhi sư chi, thùy độc thả vô sư hồ. 夫 隨 其 成 誠 心 而 師 之, 誰 獨 且 無 師 乎 ch. 2-b [42] Thử chi vị bảo quang 此 之 謂 葆 光 ch. 2-e. [43] Hóa thanh chi tương dãi, nhược kỳ bất tương đãi, hòa chi dĩ Thiên nghê 化 聲 之相 待, 若 其 不 相 待, 和 之 以 天 倪 ch. 2-h. [44] Vong niên, vong nghĩa, chấn ư vô cảnh, cố ngụ chư vô cảnh 忘 年 忘 義 振於 無 竟 故 寓 諸 無 竟 ch. 2-i. [45] Phù đại Đạo bất xưng, đại biện bất ngôn. 夫 大 道 不 稱, 大 辯 不 言 ch. 2-c. [46] Thục tri bất ngôn chi biện, bất đạo chi đạo 孰 知 不 言 之 辯, 不 道 之 道 ch. 2-d. [47] Kim giả ngô táng ngã 今 者 吾 喪 我 ch. 2-a. [48] Thánh nhân bất tùng sự ư vụ, bất tựu lợi, bất vi hại, bất hỉ cầu. 聖 人 不 從 事務, 不 就 利, 不 違 害, 不 喜 求 ch. 2-g. [49] Nhược nhiên giả, thừa vân khí, kỵ nhật nguyệt nhi du hồ tứ hải chi ngoại, tử sanh vô biến ư kỷ. 若 然 者, 乘 雲 氣, 騎 日 月 而 游 乎 四 海 之 外, 死 生 無 變 於己 ch. 2-e… Bàng nhật nguyệt hiệp vũ trụ vi kỳ vẫn hợp旁 日 月, 挾 宇 宙 為 其 吻 合 ch. 2-g. [50] Chúng nhân dịch dịch, Thánh nhân ngu truân, tham vạn tuế, nhi nhất thành thuần. 眾 人 役 役, 聖 人 愚 芚 參 萬 歲 而 一 成 純 ch. 2-g [51] Xem ch. 2-d, từ Cổ chi nhân tri hữu sở chí hĩ…» 古 之 人 其 知 有 所 至 矣 đến vị thủy hữu thị phi dã.» 未 始 有 是 非也 Đạt Vô cực, hay Thái cực là đạt đích. [52] Thị dĩ thánh nhân hòa chi dĩ thị phi, nhi hưu hồ Thiên quân. 是 以 聖 人 和之 以 是 非 而 休 乎 天 鈞 ch. 2-c. [53] Tóm đoạn a. Dưỡng sinh chủ. [54] Tóm đoạn b. [55] Tóm đoạn c. [56] Tóm đoạn d. [57] Xem đoạn a, Wieger, Les Pères du Système Taoiste, Đoạn này Nguyễn duy Cần bỏ không dịch. [58] Tâm trai 心 齋. a, tr. 232. [59] Hư thất sinh bạch, cát tường chỉ chỉ, vị tọa trì. Phù tuần nhĩ mục nội thông nhi ngoại ư tâm tri, quỉ thần tương lai xá. 虛 室 生 白, 吉 祥 止 止, 謂 坐 馳. 夫 徇 耳 目 內 通, 而 外 於 心 知, 鬼 神 將 來 舍 Wieger, Nhân gian thế, [60] Ibid. a, tr. 234. [61] Xem đoạn b, tr. 235. [62] Xem đoạn c, tr. 236-237. [63] Xem d, tr. 238-239. 1, 240-241. [64] Tóm tắt đoạn a, Đức Sung Phù. Xem Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 294-297. [65] Dĩ kỳ tâm đắc kỳ thường tâm. 以 其 心 得 其 常 心. Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 291. [66] Từ Trọng Ni viết Nhân mạc giám ư lưu thủy» 仲 尼 曰 人 莫 鑑 於 流 水 đến dĩ vật vi sự hồ» 以 物 為 事 乎 Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 291-292. [67] Phù thiên vô bất phúc, địa vô bất tải, Ngô dĩ phu tử vi Thiên địa. 夫 天 無不 覆, 地 無 不 載, 吾 以 夫 子 為天 地 Ibid, tr. 305. [68] Vô Chỉ viết Thiên hình chi an khả giải 無 趾 曰 天 刑 之, 安 可 解 Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 306-308. [69] Ai Công viết Hà vị tài toàn?… Thị chi vị tài toàn 哀 公 曰 何 謂 才 全? [...] 是 之 謂 才 全 Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 314-315. [70] Diểu hồ tiểu tai, sở dĩ thuộc ư nhân dã, ngao hồ đại tai, độc thành kỳ thiên. 眇 乎 小 哉, 所 以 屬 於 人 也, 謷乎 大 哉, 獨 成 其 天 Ibid., tr. 323 [71] Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 340-347. [72] Xem đoạn d Đại Tông Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 358-360. [73] Xem Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 351-355. [74] Ibid. tr. 351-355. 362-377. [75] Cố Thánh Nhân tương du ư vật chi sở bất đắc độn nhi giai tồn 故 聖 人 將 遊於 物 之 所 不 得 遯 而 皆 存 Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 354. [76] Xem đoạn e, tr. 364-365. [77] Xem i, tr. 385-389. [78] Xem tọa vong» 坐 忘 tr. 392… Đọa chí thể, truất thông minh, ly hình, khứ tri, đồng ư đại thông. 墮 枝 體, 黜 聰 明 離 形 去 知 同 於 大 通 Ibid., tr. 393 [79] Đồng tắc vô háo dã, hóa tắc vô thường dã. 同 則 無 好 也, 化 則 無 常 也 Ibid., tr. 393 [80] Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 386-389. [81] Phù thánh nhân chi trị dã, trị ngoại hồ. 夫 聖 人 之 治 也, 治 外 乎 Nguyễn Duy Cần, Nam Hoa Kinh, tr. 411 [82] Lao hình, truật tâm 勞 形 怵 心 Ibid., tr. 417. [83] Ibid., tr. 418. [84] Điêu trác phục phác. 雕 琢 復 朴 Ibid., tr. 428 [85] Thể tận vô cùng nhi du vô trẫm 體 盡 無 窮, 而 遊 無 朕 tr. 434 [86] Liệt Tử tự dĩ vi vị thủy học nhi qui 列 子 自 以 為 未 始 學 而 歸 Ibid., tr. 428 [87] Thừa phù mãng diêu chi điểu, di xuất lục cực chi ngoại, nhi du vô hà hữu chi hương, dĩ xứ khoáng lạng chi dã. 乘 夫 莽 眇 之 鳥 以 出 六 極 之 外, 而 遊 無 何 有之 鄉, 以 處 壙 埌 之野 Ibid., tr. 414 [88] Lập hồ bất trắc nhi du ư vô hữu giả dã 立 乎 不 測 而 遊 於 無 有 者 也 Ibid., tr. 418 [89] Vô vi danh thi, vô vi mưu phủ, vô vi sự nhiệm, vô vi tri chủ, thể tận vô cùng, nhi du vô trẩm. 無 為 名 尸, 無 為 謀 府, 無 為 事 任 無 為 知 主, 體 盡 無 窮, 而 遊 無 朕 Ibid., tr. 434 - Chí nhân chi dụng tâm nhược kính, bất tương, bất nghịch, ứng nhi bất tàng. Cố năng thắng vật nhi bất thương. 至 人 之 用 心若 鏡;不 將, 不 逆;應 而 不 藏. 故 能 勝 物 而不 傷 Ibid., tr. 434 [90] Xem các đoạn f, g Ibid., tr. 434-436

tề vật luận của trang tử